Friday, May 22, 2026

Mỗi người chúng ta đều có một cây vĩ cầm trên ngực mình...

 "Mỗi người chúng ta đều có một cây vĩ cầm trên ngực mình, và chúng ta làm lạc mất cây vĩ kéo để chơi nó. Một số người tìm thấy cây vĩ kéo trong những trang sách, một số tìm thấy trong ngọn lửa hoàng hôn, một số tìm thấy trong ánh mắt của một người nào đó... Mà mỗi lần cây vĩ kéo rơi khỏi tay họ dễ như một sợi cỏ hay một giấc mơ. Cuộc sống là sự tìm kiếm cây vĩ kéo để không cảm thấy trống vắng xung quanh chúng ta."



(Nguồn: viet-ve-ngay-da-qua)

SỰ IM LẶNG NGỌT NGÀO



Buổi chiều ngày 24 tháng 12 năm 2004, Wendy, cô sinh viên năm thứ hai đại học Dược Khoa đang đứng đợi chuyến xe lửa của thành phố NewYork để trở về nhà. 


Tất cả các anh chị em của cô đều hẹn là sẽ về nhà đúng 7 giờ, để đoàn tụ trong buổi cơm chiều thân mật cùng cha mẹ, theo truyền thống của gia đình họ. Bỗng Wendy để ý đến một cặp nam nữ đang đứng cách cô vài bước, họ đang ra dấu bằng tay để giao lưu với nhau.


Wendy hiểu được thuật ngữ ra dấu bằng tay, vì trong những năm đầu đại học, cô đã tình nguyện làm việc trong trường tiểu học dành cho người khuyết tật, nên cô đã học được cách ra dấu tay, để trò truyện với những người câm điếc.


Vốn tính chịu khó học hỏi, Wendy đã khá thông thạo thuật ngữ này. Nhìn vào cách ra dấu của hai người khuyết tật ở trạm xe, Wendy đã “nghe lóm” được câu chuyện của hai người.  Thì ra, cô gái câm hỏi thăm đường đến một nơi nào đó, nhưng chàng thanh niên câm thì “trả lời” là anh không biết nơi chốn đó. Wendy rất thông thạo đường xá trong khu vực này, nên cô mạnh dạn đứng ra chỉ dẫn cho cô gái.  Dĩ nhiên cả ba đều dùng cách ra dấu bằng tay, để “nói” trong câu chuyện của họ.


Khi xe lửa đến trạm, thì Wendy và hai người bạn mới quen đã kịp thời trao đổi địa chỉ email cho nhau.  Những ngày sau đó, ba người tiếp tục trò chuyện dùng tin nhắn của điện thoại di động, rồi dần dà họ trở thành bạn thần giao cách cảm với nhau.


Chàng trai kia tên là Jack và cô gái tên là Debbie.  Jack cho biết, anh đang làm việc cho một hãng xuất nhập khẩu, và ở cách nhà Wendy không xa.


Từ những tin nhắn điện thoại, email thăm hỏi xã giao lúc đầu, cả hai dần dần tiến đến chỗ trở thành bạn thân lúc nào không hay.  Đôi khi Jack đến trường đón và mời cô đi ăn. Cả hai thích khung cảnh êm đềm trong công viên, nên thường yên lặng đi bên nhau trong những giờ phút nghỉ ngơi.


Tuy phải ra dấu để trò chuyện, nhưng Wendy không cảm thấy bất tiện, mà cô lại có dịp trau dồi “thủ thuật”, để nghệ thuật ra dấu của cô càng lúc càng tinh xảo hơn. Đến mùa thu năm đó, thì hai người đã thân thiết như một cặp tình nhân. Wendy đã quên hẳn Jack là một người khuyết tật, cho nên lần đầu tiên khi Jack ra dấu “I Love You”, thì Wendy đã nhẹ nhàng ngả đầu vào vai anh.


Sau những giờ học, thỉnh thoảng Wendy cũng vào chatroom đấu láo với bạn bè, mỗi khi Wendy đặt câu hỏi “Bạn có thể có tình yêu với một người câm điếc hay không?”, thì hình như không có bạn bè nào của cô có được câu trả lời dứt khoát.  Điều này đã khiến cho Wendy bị dày vò không ít. 


Vào dịp lễ Tạ ơn năm đó, Jack tặng cho Wendy một bó hoa hồng kèm theo câu ra dấu: “Wendy có chịu làm bạn gái của mình không?” Wendy vừa vui mừng vừa kinh ngạc, nhưng sau đó, là những sự mâu thuẫn khổ sở trong nội tâm. Wendy biết rõ là cô sẽ gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của những người thân.


Quả nhiên cha mẹ cô khi biết rõ sự việc, đã dùng đủ mọi phương thức, để mong lôi kéo đứa con gái “lầm đường lạc lối” trở về.  Thôi thì hết chú bác, cô dì, lại đến các anh chị em, bạn học, được cha mẹ có vận động tới để làm thuyết khách.


Đứng trước áp lực này, Wendy chỉ có thể phân trần với gia đình về nhân cách cao cả của Jack, cô còn cho mọi người biết là thái độ lạc quan, đầu óc thực tế, tích cực của anh, đã khiến cô cảm thấy gần gũi hơn những bạn trai, mà cô đã từng quen biết trước đây.


Gia đình sau khi nghe giải bày, đã không còn quá khắt khe phê bình, mọi người dự định là sẽ gặp mặt Jack trước, rồi mới có thể đánh giá cuộc tình của hai người.


Cả nhà đồng ý là sẽ gặp mặt Jack vào trưa ngày 25 tháng 12, sau khi mọi người đã hưởng được một đêm Giáng sinh bình yên, cho tâm tư lắng đọng. Wendy đã có quyết định trong đầu, nếu như cha mẹ, anh chị của cô có những cử chỉ, hành động khinh miệt Jack, thì cô và Jack sẽ đi đến nhà thờ sau đó, để xin ơn và chúc lành của Thiên Chúa.


Trên đường dẫn Jack đến nhà, tâm trạng hồi hộp của Wendy, đã không thoát khỏi cặp mắt quan sát của Jack, anh mỉm cười ra dấu cho cô:


- Wendy yên tâm, bảo đảm với em là cha mẹ em sẽ hài lòng. Anh cho họ biết là anh sẽ thương yêu em, chăm sóc em suốt đời.


Đó là lần đầu tiên trong đời, cô sinh viên trường dược rơi những giọt lệ cảm động.Vừa vào đến nhà, Wendy nắm tay Jack đi đến trước mặt cha mẹ, cô nói:


- Thưa ba má, đây là Jack, bạn trai mà con thường nhắc đến.


Câu nói của cô vừa thốt ra, thì tất cả những hộp kẹo bánh, hoa tươi trên tay Jack, tức thời lộp độp rơi xuống đất, anh nhào tới ôm lấy cô vào vòng tay khỏe mạnh của anh.


Một điều mà Wendy không thể ngờ được, là cô bỗng nghe một giọng nói thảng thốt phát ra từ miệng của Jack:


-Trời đất, em biết nói à?


Đó cũng chính là câu mà Wendy muốn hỏi Jack. 


Mọi người ngoài cuộc đều ngẩn ngơ ngạc nhiên, trong khi hai người trong cuộc thì ôm nhau cười, nói, la, hét, nhảy nhót như điên dại. Thì ra Jack cứ ngỡ Wendy là một cô gái câm, thế mà anh vẫn sinh lòng quyến luyến, mà còn muốn tiếp tục đi đến hôn nhân. Wendy cũng tự hào có quyết định sáng suốt, vì đã chọn được người tình trong mộng tuyệt vời nhất thế gian.


“…Thượng Đế của chúng ta đang ngự ở trên cao, hình như cũng đang che miệng cười cho trò đùa, mà ngài đã đạo diễn suốt một năm qua…”Dành cho những ai yêu, nhưng chưa dám thổ lộ cùng người mình yêu.


  


St

Bệnh chụp hình_ Bài này hình như đang share rộng


Nói về bệnh chụp hình thì bệnh nhân phần nhiều là phụ nữ ở lứa tuổi “quá hồi xuân” vì ngày xưa, thời còn trẻ trung xinh đẹp mấy nàng đâu có điều kiện để chụp hình nhiều. 



Điều kiện kinh tế là một phần vì phần đông thời học sinh chỉ đủ tiền quà vặt còn khi ra đời phải lo cơm áo gạo tiền làm gì có thời giờ õng ẹo khoe dáng. Ngoài ra, chụp hình thời đó phải mua film và đi tiệm rửa vừa tốn tiền vừa mắc công nên có chụp cũng không được nhiều.


Bây giờ thì ngược lại. Tuổi hết còn xuân mà là “Quá luôn cái tuổi hồi xuân” nhưng tiền bạc rủng rỉnh, có tiền có thời giờ, có luôn smart phone chụp hình rẹt rẹt thoải mái không hạn chế. Cứ bấm máy một lần cả trăm cái cũng được sau đó xem lại xoá bớt, rồi chỉnh sửa màu sắc, ánh sáng, hình nền nên tha hồ mà chụp. 

Hơn nữa ngày nay còn có nhiều website để photo shop xoá mụn và nếp nhăn, làm mịn trắng da như trứng gà bóc, hoặc làm mắt to ra, ốm thon, chân dài mênh mang còn sướng hơn đi thẩm mỹ viện vì khỏi tốn tiền và khỏi đau đớn. Nên mấy bà mấy cô ngu sao không chụp cho đã!


Nhỏ bạn hỏi tôi sao thấy mi chụp hình hay đeo kính râm vậy? Tôi giải thích:


- Mắt bây giờ có túi mỡ lại còn sụp mí. Đeo cái kính râm vô để che dấu vết thời gian rồi nhe răng cười là hình chụp ra sẽ tươi rói thôi. Và lỡ có nháy mắt hoặc nheo mắt vì chói nắng cũng không ai thấy!

Vậy là sau đó, thấy một đám bạn khi chụp hình đứa nào cũng đeo kính râm như tôi. Nhìn hình “tập thể” cứ như một đội binh hiệp sĩ mù! Tức cười lắm. Chụp ngoài trời đeo kính mát thì còn có lý chứ chụp trong nhà cũng đeo kính đen thui trông kỳ cục chẳng giống ai!


Có nhiều người bệnh nặng, ghiền đến nỗi cứ một cảnh mà nghiêng đầu qua, ẹo đầu lại, đứng lên, ngồi xuống, làm dáng đủ kiểu. Chụp xong banh cái hình ra xem kỹ từng sợi tóc, môi cười, ngón tay rồi bắt chụp lại. Họ đâu biết rằng ai mà có thời giờ banh cái hình của họ ra mà săm soi đâu chứ.


Người mang bệnh chụp hình sẽ làm khổ hoặc làm phiền cho thợ chụp hình bất đắc dĩ vô cùng vì cứ tưởng tượng cùng nhau đi chơi mà cứ bị bắt làm phó nháy. Không được thưởng ngoạn thì chớ mà cứ chụp cho họ xong là bị bắt sửa chụp đi chụp lại. Sùng gan thấy tía mà hổng dám than!


Chụp hình xong dĩ nhiên ai cũng chọn những tấm đẹp nhất khoe lên Facebook cho bạn bè xem. Thế là thiên hạ nhào vô lịch sự khen trẻ, khen đẹp túi bụi chứ dám chê à! Thế là càng chụp, càng khoe mới chết chứ vì hình như mình thấy mình cũng đẹp thật. Mưa lâu thấm đất mà!


Nhớ một ngày kia cô bạn chung sở gặp tôi nói:


-Dạo này chị Thanh đi chơi chụp hình đăng Facebook trông trẻ đẹp ghê hổng giống bên ngoài tí nào!!!


Ha ha ha! Lời nói hay nhất trong năm! Không biết có ai được khen giống tôi không nhỉ??? 


Bệnh chụp hình này là bệnh thời đại Smart Phone và Facebook. Nhiều người vì nó mà bỏ mạng vì rán kiếm hình độc đáo khoe Face như đứng chụp ở triền núi, bờ vực, thác nước, sóng lớn, trên đường rày xe lửa trước chuyến tàu đang phóng tới…v.v. Tôi cũng có lần đi bộ băng sông đang đông đá để chụp hình và quay phim khoe bạn bè trên Facebook. Giờ nghĩ lại mà thấy sợ vì trên mặt sông tuyết che phủ hết nhưng biết đâu bên dưới có chỗ chỉ đông một lớp đá mỏng, mình sụp chân xuống là dòng nước cuốn đi ngay không thể nào ngoi lên được. 


May mà tôi chưa tới số chết để tự thú căn bệnh chụp hình của mình! Và cũng may nó không phải là bệnh nan y nên tôi đang tự chữa được sơ sơ. Mong là mọi người ý thức căn bệnh thời đại này để tự chữa cho mình khỏi cần đi gặp bác sĩ! Hi hi!


Thanh Mai 


BẾP LỬA QUÊ NHÀ




Sau khi dời lại chuyến đi về Mỹ cả 10 ngày vì cảm cúm, tôi đến New York vào cuối tháng 11. Một người bạn luật sư vừa thành công trong 2 phi vụ M&A lớn, kiếm được một mớ tiền và tậu cho hắn ta một biệt thự ngay sát bờ biển Long Island. Hắn có chút thì giờ và muốn gặp lại tôi sau bao năm vì cũng có vài chuyện làm ăn thú vị bên Đông Âu. Hắn hứa sẽ đón tôi ở phi trường, về nghỉ ngơi ở cơ dinh mới tại Long Island và hai thằng sẽ cùng “bonding” như hồi còn độc thân vui tính bên Indonesia.


Hắn cho tài xế đón tôi ở Kennedy, cáo lỗi vì vừa “dụ” được một cô siêu mẫu nào đó từ Croatia qua, phải đưa nàng đi ăn chơi ở Manhattan. Tài xế bỏ tôi ở Long Island và tên bạn hứa sẽ qua thăm sáng hôm sau. Đêm đó, gió từ biển thổi vào lạnh buốt. Một mình trong căn nhà rộng gần 1,000 mét vuông, tôi loay hoay tìm các nút điều khiển điện đèn vật dụng, và mất cả tiếng mới vặn được lò sưởi. Vừa ốm dậy, tôi run cầm cập và con vi rút cúm quái ác lại tái xuất hiện. Hôm sau, dù đã Thứ Hai, tên bạn vẫn còn miệt mài biệt tích với cô siêu mẫu và tôi phải kêu xe tự quay lại Mahattan, chui vào một khách sạn mid-town cho tiện việc đi lại.


Hai ngày tiếp đó, tôi có vài cuộc họp nhưng không hiệu quả vì đầu óc còn lâng lâng với thuốc trụ sinh và các cơn ho. Rời New York về lại California, tôi vẫn không gặp lại ông bạn cũ đã long trọng mời mình qua New York. Sau đó, Los Angeles cũng không khả quan hơn. Gió đêm của biển Malibu vẫn lạnh buốt như Long Island và tôi vẫn bị cầm tù trong nhà vì sức đề kháng cơn bệnh của mình càng ngày càng yếu.


Sau chuyến đi cả tháng trời không hiệu quả, tôi quay lại Việt Nam hôm Thứ Sáu vừa rồi. Ra khỏi phi trường Tân Sân Nhất, tôi lại cong người vì cái nóng giữa trưa. Nắng chói chang, nhưng xe cộ vẫn đông, ồn ào và vô trật tự như thường lệ. Có lẽ là bắt đầu tuần lễ Tết Tây? Bụi bặm, rác rười, những cư xử vô văn hóa của mọi người trên đường phố…vẫn tràn ngập. Nhưng lần đầu tiên, tôi không bực bội mà lại nhìn cảnh và người qua một lăng kính thú vị hơn. Cái cười của 3 em bé đong đưa trên chiếc xe máy của cha mẹ tại một ngã tư dường như ngây thơ và an toàn hơn chuẩn mực tôi thường phán xét.


Về đến nhà, tôi đi tắm xong rồi tự vào bếp pha một ly cà phê cho vừa miệng. Tôi nhớ cái bếp ở Long Island. Nó lớn hơn cả nguyên tầng dưới của căn biệt thự Phú Mỹ Hưng. Đủ mọi thứ đồ chơi cho một tay đầu bếp thiện nghệ, nhưng nó lạnh lẽo và xa lạ như cảnh trí dành cho một phim trường. Tôi còn nhớ phải mất 15 phút mới tìm ra cách làm một ly cappuccino trên chiếc máy quá tối tân. Còn chiếc máy làm cà phê ở đây, tôi vẫn lười chưa đi mua bình thủy tinh cô người làm đánh vỡ tháng trước.


Xong ly cà phê, tôi lần ra chiếc ghế bành quen thuộc, mơ màng vặn TV. Đài LA 34 mà tôi chưa hề nghe phát ra một bài vọng cổ buồn. Tôi thấy thanh bình trong cái nóng nhè nhẹ vừa đủ thấm mồ hôi.


Một người bạn từ Đà Lạt nghe tôi về nước gởi tặng một giỏ hoa hồng thật đẹp. Chiếc phone lại bắt đầu kêu, vài chục tin nhắn từ mấy ngày qua hiển thị. Một bữa tiệc tất niên với hơn 15 người bạn được tổ chức vội vã ngày hôm sau. Vừa chuyện nghiêm túc vừa chuyện bá láp nhưng tiếng cười nói không dứt.


Sợi dây ràng buộc với quê hương khá mỏng manh, nhưng tôi nghĩ mình không dễ gì thoát ra được. Mà chắc gì đã cần bay đi cả 20 tiếng để tìm con người đang tự tại qua tháng ngày thân quen?


TS. Alan Phan - Trích từ sách Góc nhìn Alan - Những bài chưa xuất bản

 TRÍ TUỆ CỦA "MỘT NỬA"




Đời người, luôn là một nửa này và một nửa kia: Một nửa nỗ lực, một nửa tùy duyên. Một nửa khói lửa, một nửa an nhiên. Một nửa mơ hồ, một nửa sáng suốt…


Cuộc đời ai cũng đều mong muốn vạn sự như ý, ước gì được nấy, nhưng hầu hết những chuyện diễn ra trong cuộc sống đều là không như ý nguyện, vậy thì làm sao có thể chuyện gì cũng đắc ý được chứ? Có một câu ngẫm rất đúng:


"Đời người đâu thể chuyện gì cũng luôn được như ý muốn, chỉ cầu mong mọi sự trên đời được vừa lòng một nửa thôi".


Điểm tuyệt vời của chữ “nửa” nằm ở chỗ chỉ cầu được vừa lòng “một nửa” là thấy thỏa mãn, vậy mới có thể thường lạc. Để ý một chút, ta sẽ phát hiện ra trong cuộc sống đâu đâu cũng là trí tuệ của “một nửa”.


1. Tình bạn: Một nửa là vương vấn, một nửa là lãng quên


Bạn bè không nhất định phải thường xuyên liên lạc, nhưng chắc chắn sẽ không quên đối phương.


Đôi khi tự nhiên nghĩ đến đối phương, trong lòng vẫn sẽ có một chút vương vấn nào đó.


Cho dù năm tháng đã trôi qua, nhưng tình bạn của ta sẽ mãi mãi không thay đổi.


Những người mà ta gọi là “bạn bè”, chẳng qua chỉ là những người khách qua đường trong cuộc đời của ta mà thôi.


2. Gia đình: Một nửa là hy sinh, một nửa là thu hoạch


Một gia đình hạnh phúc cần có sự hy sinh và cố gắng của mỗi người.


Quan tâm cha mẹ, giáo dục con cái, để gia đình của mình mãi mãi tràn ngập sự ấm áp.


Khi ta bị xã hội chèn ép đến nỗi không thở được, một nụ cười tươi của người nhà liền giúp ta lấy lại toàn bộ năng lượng, tiếp tục bước về phía trước!


3. Con cái: Một nửa là thiên phú, một nửa là bồi dưỡng


Mỗi một đứa trẻ đều là một hạt giống, chỉ có điều là thời kỳ nở hoa của mỗi hạt giống không giống nhau mà thôi.


Có một số loài hoa, sau khi cây non trồi lên khỏi mặt đất là có thể nhanh chóng phát triển, sau đó nở rộ rực rỡ. Nhưng có một số loài hoa thì phải trải qua giai đoạn chờ đợi lâu hơn.


Cha mẹ cần phải có sự kiên nhẫn trong việc nuôi dạy con cái, đừng vì nhìn thấy hạt giống của người khác ra hoa kết trái sớm, mà quả quyết rằng con mình không phải là hạt giống tốt.


Điều cha mẹ cần làm là tin tưởng vào con mình, chờ đợi ‘hạt giống’ của mình nở hoa, cũng có thể hạt giống của bạn sẽ không bao giờ nở hoa được, bởi vì ngay từ đầu nó đã định sẵn sẽ trở thành một cây cao chót vót!


4. Công việc: Một nửa là vận may, một nửa là cố gắng


Phần lớn thời gian của nhiều người đều là dành cho công việc, công việc không chỉ là sự bảo đảm cho cuộc sống gia đình, mà còn là nấc thang rèn luyện ý chí con người để đi đến một cuộc sống tốt đẹp hơn.


Người chỉ làm việc vì tiền lương thì công việc mãi mãi rơi vào trạng thái bình thường, sẽ khó có được sự phát triển theo thời gian.


Công việc chính là càng làm càng biết làm việc, càng biết làm việc thì càng có nhiều cơ hội.


5. Tiền bạc: Một nửa là ‘Thiên thần’, một nửa là ma quỷ


Khi tiền bạc cứu sống được tính mạng con người, thì tiền bạc là ‘Thiên thần’. Khi con người vì tiền bạc mà mất mạng, thì tiền bạc là ma quỷ.


Khi tiền bạc thỏa mãn nhu cầu bình thường thì tiền bạc là ‘Thiên thần’, khi tiền bạc làm tăng tham vọng và sự ích kỷ của con người, thì tiền bạc là ma quỷ.


Quân tử chỉ thích tiền tài có được một cách chính đáng, không ham thích tiền của bất nghĩa.


Bản thân tiền bạc vốn dĩ không có tội ác, mà chính sự tham lam của con người đối với tiền bạc mới là nguồn gốc của tội ác.


6. Hạnh phúc: Một nửa là giành lấy, một nửa là tùy duyên


Hạnh phúc là gì?


Hạnh phúc tưởng chừng là thứ hão huyền không thật, nhưng thật ra nó ở ngay trong tầm tay.


Hạnh phúc là khi ta khát nước, có một ly nước lọc để uống, ta không ngưỡng mộ đồ uống chức năng của người khác. Khi ta đói bụng, có một miếng cơm để ăn, ta không thèm những món sơn hào hải vị của người khác.


Mặt luôn tươi cười, cố gắng tìm thấy những gì mình xứng đáng nhận được, làm hết khả năng có thể, còn lại đều nghe theo ý Trời, vậy là sẽ hạnh phúc.


Nhưng nếu như ngay cả bát cơm ở trên bàn mà ta cũng không chịu đưa tay ra lấy, vẫn muốn chờ người khác bón cho ta ăn, vậy thì còn có hạnh phúc gì để nói nữa chứ?


7. Mơ ước: Một nửa là dũng cảm, một nửa là ảo giác


Socrates nói rằng: chuyện vui vẻ nhất trên đời này không gì bằng theo đuổi ước mơ.


Con người sống trên đời, từng bước đi đều rất khó khăn, có biết bao nhiêu người không thể vượt qua được những thử thách của cuộc đời, đi hết một quãng đường là cũng quên luôn nguyện vọng ban đầu của mình là gì.


Mỗi người trong chúng ta đều nên gieo trồng một hạt giống của ước mơ.


Ước mơ mãi mãi ở nơi xa, lúc ẩn lúc hiện, nó có thể trở thành hiện thực; nhưng cũng có thể cả đời này ta sẽ không thực hiện được.


Cũng giống như con đại bàng dũng mãnh trên bầu trời, vì có khát vọng với bầu trời xanh, đại bàng mới lao đi chinh chiến, gian nan một đời, con đại bàng dũng mãnh vẫn không thể bay lên tầng trên cùng của bầu trời xanh.


Nhưng ý nghĩa thật sự của ước mơ nằm ở chỗ dũng cảm đi bước đi đầu tiên, dám hành động vì mơ ước, chứ không phải chỉ nhìn vào ước mơ, suốt ngày mơ mộng hão huyền mà không làm gì cả, để thời gian trôi qua một cách lãng phí.


8. Cuộc sống: Một nửa là khói lửa, một nửa là niềm vui tao nhã


Cuộc sống luôn không thể tách rời mùi khói lửa của củi gạo dầu muối, nồi niêu xoong chảo.


Học cách tìm kiếm niềm vui tao nhã trong mùi khói lửa:


Những chậu cây ngoài ban công, mùi hương hoa trong những chậu cây; những cuốn sách bên đầu giường; những nơi xa xôi trong sách; những khung tranh treo trên tường, những câu chuyện trong những bức tranh…


Từng ngọn cây cọng cỏ, một cuốn sách một bức tranh, một bữa cơm và một chén trà, tâm hướng về tất cả những nơi mà chúng ta nhìn thấy, đâu đâu cũng là niềm vui tao nhã, nhiều lúc chúng ta chỉ thiếu một hạt giống phát hiện ra sự thơ mộng mà thôi.


9. Đời người: Một nửa là mơ hồ, một nửa là sáng tỏ


Trong những trải nghiệm của cuộc đời, ta luôn hiểu ra một số đạo lý từ trong sự mơ hồ, sau khi sáng tỏ rồi lại nhìn nhận một số sự việc một cách mơ hồ.


Sáng tỏ để trong lòng, mơ hồ sống hết đời.


Mơ hồ từ trong sự sáng tỏ, sáng tỏ trong sự mơ hồ, đây là một thái độ sống rất trí tuệ.


Hiểu ra được đạo lý bên trong, học cách sống an nhiên, thì đời người đâu đâu cũng là cảnh đẹp.


Thế giới luôn là một nửa này và một nửa kia:


Một nửa là trời, một nửa là đất. 

Một nửa là nam, một nửa là nữ.

 Một nửa là thiện, một nửa là ác.


Đời người, luôn là một nửa này và một nửa kia:


Một nửa nỗ lực, một nửa tùy duyên. 

Một nửa khói lửa, một nửa an nhiên. 

Một nửa mơ hồ, một nửa sáng suốt.


Nửa nhân nửa quả, 

nửa được nửa mất, 

những chuyện tương lai cũng chia làm hai phần, một nửa trả lại cho đất trời, một nửa nhường cho người đời.


Quá nhiều thứ một nửa, một nửa…


Đời người chính là nằm ở trong một nửa này một nửa kia, đi qua một nửa, còn lại một nửa, bỗng nhiên nhận ra, đã hơn một nửa cuộc đời rồi.


Làm người hay làm việc, cũng không mong cầu mọi mặt hoàn hảo, mọi chuyện trọn vẹn, chỉ mong đạt đến một nửa, như vậy mới có thể thỏa mãn và thường lạc, cuộc sống mới có thể an nhiên được.


Nguồn: ĐKN

Trích dẫn yêu thích của bạn? _ Buồn buồn đọc chơi cũng ngẫm ra vài điều :)



1. Nếu đã trốn thoát khỏi sự yêu thích nồng nhiệt ấy, tự nhiên sẽ chẳng có những đau khổ bất chợt ghé thăm. - Thất lạc cõi người | Dazai Osamu


2. Lời thật lòng ở cõi đời này vốn chẳng nhiều, đôi má hồng của một người con gái còn hơn cả hàng ngàn câu nói. - Rickshaw Boy (Lạc đà Tường tử) | Lão Xá


3. Cô ấy phải làm được độc nhất vô nhị, có thế mới xứng với mối thâm tình vô song của anh. - Mười năm thương nhớ | Thư Hải Thương Sinh


4. Nhớ tháng ngày ta bé ton hon


Anh thích trò chuyện, còn em thích cười


Sóng đôi hai đứa, đào rợp bóng


Chim cao giọng hót, gió xao động rừng


Say giấc lúc nào, chẳng tự rõ


Hoa trong mộng ấy biết rơi bao nhành?


Hoa trong mộng ấy biết rơi bao nhành? | Tam Mao


5. Chẳng gì có sức thuyết phục hơn thời gian cả, bởi thời gian có thể thay đổi hết thảy mà không cần thông báo cho chúng ta. Vật đổi sao dời, là điều mà ai đi chăng nữa cũng chẳng thể chuyển xoay. Hãy quên người mà ta không có được ấy đi, những chuyện mà ta không thể làm gì ấy nữa, chi bằng quên hết đi. - Sống | Dư Hoa


6. Con người vì bản chất của sự sống mà sống, chứ chẳng phải vì bất kỳ thứ gì ngoài sự sống mà sống cả. - Sống | Dư Hoa


7. Một người phụ nữ có khí chất thực sự, chẳng bao giờ khoe khoang những gì cô ấy có, cũng chẳng nói với ai cô ấy từng đọc những cuốn sách nào, từng đặt chân đến nơi đâu, có bao nhiêu chiếc váy, từng mua món trang sức nào. Bởi vì cô ấy không có cảm giác tự ti. - Điệu múa xoay vòng | Diệc Thư


8. Cái gọi là vực sâu vạn trượng, nhảy xuống rồi, cũng chính là vạn dặm công danh. - Hướng về giản dị nơi tim | Mộc Tâm


9. Bạn sinh ra với đôi cánh trên mình, sao lại cam lòng bò chậm suốt chặng đường như loài sâu kiến? - You have wings | Jalal ad-Din Muhammad Rumi


10. Tôi luôn nghĩ rằng sau tuổi 18 là tuổi 19, sau tuổi 19 là tuổi 18, còn tuổi 20 thì mãi mãi chẳng đến bao giờ. Nhưng hiển nhiên là thời gian không nghĩ như vậy, tuổi 20 cứ bước đến lặng lẽ như vậy. - Rừng Na uy | Haruki Murakami


11. Tục sự tục vật khả nại, tục nhân bất khả nại. (Những chuyện dung tục, vật dung tục còn chịu được chứ kẻ dung tục chịu sao nổi) - Chim vân tước hót cả ngày | Mộc Tâm


12. Phải nhìn bằng trái tim thì mới thấy rõ ràng, những thứ thật sự quan trọng, mắt thường chẳng thấy được đâu. - Hoàng tử bé | Antoine de Saint-Exupéry


13. Tôi biết em ngớ ngẩn, phù phiếm, và có một cái đầu trống rỗng. Nhưng tôi yêu em. Tôi biết rõ mục đích và lý tưởng của em, chúng tầm thường và dung tục. Nhưng tôi yêu em. Tôi biết em chỉ là hàng loại 2, nhưng tôi yêu em. - The Painted Veil | William Somerset Maugham


14. Tôi gặp người, tôi nhớ rõ khuôn mặt người. Thành phố này sinh ra đã phù hợp để yêu đương, người sinh ra đã phù hợp với linh hồn của tôi. - Hiroshima, My Love | Marguerite Duras


15. Sau khi em đi, tôi đã sống một cách thật nghiêm túc. - Xứ tuyết | Kawabata Yasunari


16. Chưa nhận được sự cho phép, tôi đã tự tiện thích em vô cùng, có lỗi quá. - Đọc thầm | Priest


17. Thời gian quyết định việc bạn sẽ gặp được ai trong cuộc đời mình, trái tim của bạn quyết định việc bạn sẽ là người hiện diện trong cuộc đời bạn, mà hành động của bạn quyết định việc đến cuối cùng thì ai sẽ là người có thể ở lại. - Walden | Henry David Thoreau


18. Trước giờ người ta chỉ tin tưởng điều mà họ muốn tin tưởng. - Cựu hoan nhược mộng | Diệc Thư


20. Trưởng thành là sự khó khăn khi đứng giữa thoả hiệp cùng kiên trì. - Tiệm tạp hoá Namiya | Higashino Keigo


21. Mặc kệ tất cả những người trên thế giới này nói gì đi nữa, tôi vẫn cảm thấy rằng suy nghĩ của bản thân mới là chính xác. Cho dù người khác thấy thế nào đi nữa, tôi sẽ chẳng bao giờ làm nhiễu loạn nhịp điệu của bản thân. Những chuyện mình thích tự nhiên có thể kiên trì thôi, đã không thích rồi thì có làm sao cũng chẳng thể lâu dài được. - Rừng Na uy | Haruki Murakami


22. Truyền thuyết kể rằng, bởi vì ở Bắc Cực quá lạnh lẽo, vừa mở miệng nói chuyện thì lời nói đã hoá thành băng, chẳng thể nghe được, vậy nên người ở đó đành phải mang băng ấy về hơ lửa để nghe. Tình yêu sao? Đầu tiên dùng lời ngon ngọt để cắt băng cắt tuyết, cắt chúng thành những mảnh vỡ đầy tinh xảo, đun lên với rượu, như vậy, ta sẽ được hương vị khiến người đắm say. Lúc tình đương nồng, đừng dùng bếp lửa, hãy dùng một ngọn nến thôi, lại thêm một ly coffee, có thế mới không say ngất ngưởng được, để lại cho ta chút tỉnh táo duy trì. Nếu thất tình, không kịp chờ đến khi băng tuyết tan hết, thôi thì một mồi lửa cháy, đốt thành một mùa xuân mới vậy. - Nấu tuyết | Lâm Thanh Huyền


23. Chúng ta luôn thích lấy câu “Thuận theo tự nhiên” để qua quít những long đong lận đận, trắc trở đường đời. Lại có rất ít người chịu thừa nhận rằng, bản chất của thuận theo tự nhiên, thực ra là sự không cưỡng cầu sau khi đã cố làm hết khả năng, mà không phải hành vi chỉ biết xoè hai tay ra với vẻ thất bại. - Ricas


24. Chẳng ai có cuộc sống vẫn luôn hoàn mỹ cả, nhưng cho dù lúc nào đi chăng nữa, cũng phải nhìn về phía trước, ôm trong mình đầy những hi vọng, cứ như vậy ta sẽ đánh đâu thắng đó. - Tát dã | Vu Triết


25. Nếu anh gặp lại em, sau bao năm xa cách, nên chào em thế nào? Là nước mắt, là lặng câm. - When we two parted | George Gordon Byron


26. Sau này, cuộc sống của anh cũng chẳng tốt hơn trong tưởng tượng, một cuốc sống có tốt, có xấu, vàng thau lẫn lộn, thời gian cứu anh thoát khỏi vực sâu, đồng thời cũng đẩy anh xuống một vực sâu mới. Mặt biển gợn sóng xôn xao, mỗi đoá bọt nước đều là con sóng lớn. Trong khoảnh khắc ấy, anh soi rõ mình trong biển, anh chỉ ngồi đó, không nói một lời. Nhưng tôi biết, tất cả những gì tốt đẹp về tương lai, xuất hiện ngay ở trong trí tưởng tượng khi ta nghĩ về. Mà sự chia xa của hai ta, chính là ý nghĩa của gặp gỡ. Ngồi cùng chàng trên một con thuyền, thuyền vào bến rồi ta có chốn về riêng. - Vương miện gai | Thuyền Độc Mộc


27. Tất cả những kiên cường đều là kén bướm của sự mềm mại. - Quầy hàng quà vặt trên thị trấn Vân Biên | Trương Gia Giai


28. Trước giờ sự thực chưa từng có lỗi với ai cả, người có lỗi nhất ở đây chỉ có chính bản thân mình. Xin lỗi vì đã không cho cậu ăn uống đủ đầy, xin lỗi vì đã không cho cậu đi ngủ đúng giờ, xin lỗi vì hay khiến cậu bị bệnh, xin lỗi vì lúc nào cũng quên quan tâm đến xúc cảm của cậu. Xin lỗi nhé, chỉ biết nghĩ cách đi yêu người khác mà quên mất cậu - người yêu mình nhất. - Yêu bản thân là bắt đầu cho sự lãng mạn trọn đời | Vương Nhĩ Đức


29. Câu “Nhường cô ấy ba phần” mà anh hay nói, chẳng phải ba phần của “ba phần nước lặng, bảy phần bụi trần”, mà là ba phần của “ba phần trăng sáng chiếu khắp cõi đời”. - Vi thành | Tiền Chung Thư


30. Nguyện người mãi mãi bình an, dù cho hai ta đời đời không gặp. - Mười năm thương nhớ | Thư Hải Thương Sinh


31. Trước khi gặp cô ấy, tôi không sợ chết, không sợ việc đi xa, cũng chưa từng sầu lo vì năm tháng dài rộng. Bây giờ lại chưa bao giờ như lúc này, suy nghĩ rõ ràng về tương lai. - Bình Như Mỹ Đường | Nhiêu Bình Như


32. Mưa rơi xuống cho người giàu, cũng rơi cho kẻ nghèo, rơi cho người nhân nghĩa, cũng rơi cho kẻ bất nhân. Thực ra, mưa chẳng công bằng, bởi vì nó rơi xuống một thế giới không tồn tại sự công bằng. - Lạc đà Tường tử | Lão Xá


Weibo | Linh Lung Tháp

Xin thưa: TÌNH YÊU thì nó "không an toàn"

 


1. Khi ta muốn thiết lập ranh giới cá nhân thì việc đầu tiên cần đặt xuống chính là "nhu cầu đòi hỏi sự tôn trọng".

Ủa chị ! Mình thiết lập ranh giới cá nhân thì họ phải tôn trọng mình chớ ?
Ủa em ! Ranh giới em lập ra là cho chính mình, sao phải chờ đợi sự tôn trọng, đứa nào đã quá giới hạn của em rồi, thì em đem tên lửa ra tiễn, tôn trọng hay không tôn trọng cũng tiễn, vì thế đừng quá quan trọng chuyện họ có tôn trọng mình không, mặt khác, đã tôn trọng em, thì họ đã biết nên đối xử với em thế nào, chứ đâu đợi chiếc tên lửa của em đến tiễn!
2. Em và anh ấy sử dụng trang cá nhân của nhau, biết tất cả các pass của nhau.
Điều đó là để đảm bảo cảm giác an toàn, có thể là nhu cầu thiết yếu về những người luôn có cảm giác thiếu an toàn với thế giới ngoài kia, vô tình hay cố ý họ lại về chung một nhà với nhau. Tuy nhiên, gì cũng có hai mặt, có thể hai bạn yêu nhau và tình nguyện trao cho nhau những điều rất riêng tư trong thế giới riêng của nhau và gọi tất cả đấy là "điểm chung", các bạn thỏa mãn cảm giác an toàn lẫn nhau khi có cùng sự tự nguyện trao cái riêng ra làm cái chung.
💕 Xin thưa: TÌNH YÊU thì nó "không an toàn".
(love never feel so good)
Theo cách mà các bạn nghĩ. Tất cả những gì thuộc về lẽ tự nhiên, nó bất ngờ không tính trước và luôn có biến số. Nay nắng, mai mưa, đó là chuyện thường tình. Như khi ta muốn giữ nắng, giữ mưa, ôi...nó bất khả thi.
Tình yêu thuộc về tự nhiên, hai con người đầy khuyết điểm chạm vào tình yêu đúng nghĩa và yêu nhau, họ tự nhiên tròn vẹn hơn mỗi ngày, từ sự tròn vẹn, họ không có nhu cầu đem cái riêng ra để gộp vào, họ "cùng nhau tạo ra" cái chung và giữ lại những cái riêng vốn dĩ đơn thuần, vì họ tin vào vẻ đẹp riêng của nhau, không có nhu cầu đồng hóa lẫn nhau.
Tình yêu thuần hóa hai bạn, hai bạn không đem những cái ranh giới ra để thuần hóa nhau.
3. Thiết lập "ranh giới cá nhân" có bị hiểu lầm là "chảnh" không chị ?
Hiểu đúng đó chứ không lầm nha. Kể cả khi em không thiết lập gì cả, người ta có hiểu là chảnh thì người ta vẫn đúng, đấy là vấn đề về "góc nhìn", góc nhìn của họ, em hiểu và tôn trọng, không phải phân minh, giải thích. Người ta không đối xử xứng đáng với em ! Đánh giá thấp em trong cuộc đời của họ, thì người ta chịu thiệt đấy chứ đâu phải em ! Bởi vì sẽ không bao giờ họ biết một cô gái biết chảnh dễ thương đến cỡ nào, eo ôi !!! Thiệt thòi vãi linh hồn í.
Đừng cứ nghĩ mình thiết lập ranh giới cá nhân là người ngoài không có quyền nghĩ theo cách của họ và đối xử với em theo cách của họ ! Việc của em là "say no, say bye". Cứ để việc của người ta lại cho họ, lời họ nói, có thể mình không thèm nghe, còn họ thì chắc chắn phải nhận vào, dọn dẹp thế nào, là chuyện của họ, em gảnh quá thì...đi gội đầu đi vậy, cho mát!
4. "Ranh giới cá nhân" có phải "yêu bản thân" không chị ?
Yêu bản thân là yêu bản thân, còn ranh giới cá nhân nó đứng riêng. Có thể bổ trợ cho nhau, nhưng không phải cái này là cái kia.
Có đầy người cũng yêu bản thân đấy, nhưng lại xâm phạm ranh giới của người khác, thì đó là vì họ chưa học bài học về ranh giới cá nhân, họ chỉ mới dừng lại ở yêu bản thân thôi.
#lekimanh #divinecouplelove

Giữ cho mình một trái tim bình yên





Sự tĩnh lặng của tâm hồn là thứ vô cùng quý giá đối với mỗi người. Sự yên bình của tâm hồn và trí tuệ sáng suốt, đều đáng quý hơn vàng bạc châu báu. Thái độ sống bình tĩnh có thể giúp chúng ta tự do tự tại trong thế giới của chân lí, cho dù phải đương đầu với thác lớn, sóng dữ hay bão táp, chúng ta cũng vẫn có thể bình an vô sự.
Cuộc đời này thắng thua là chuyện thường tình, đâu đâu cũng đầy rẫy những thách thức, vì thế cho dù có khi chịu thua thiệt một chút cũng không sao. Hãy nghe theo lời mách bảo của trái tim để không cảm thấy hổ thẹn với cuộc đời.
Nói về sự yên bình, thực ra ở đây không chỉ là nói về sự yên tĩnh, ôn hòa đơn thuần.
Chúng ta có thể dùng bức tranh dưới đây để minh họa cho sự yên bình.
Một hôm, vị giáo sư của Học viện Mĩ thuật đột nhiên yêu cầu sinh viên của mình tự do vẽ một tác phẩm thể hiện sự “yên bình”. Hơn một trăm sinh viên sau một hồi suy nghĩ kĩ lưỡng và phát huy sự sáng tạo đã nộp tác phẩm của mình. Theo yêu cầu của thầy, mỗi tác phẩm đều cố gắng thể hiện sự yên bình, có tác phẩm vẽ phong cảnh làng quê với chim chóc tự do bay lượn trên bầu trời trong xanh, trâu bò hiền hòa gặm cỏ trên đồng cỏ bao la vô tận, một làng quê nhỏ bé ẩn hiện sau rặng núi; có tác phẩm vẽ người mẹ xinh đẹp ôm đứa con bé bỏng đang say ngủ, khuôn mặt bà mẹ nở nụ cười hiền từ, dường như đang khe khẽ hát ru con… mỗi bức tranh đều khiến người xem cảm thấy trào dâng niềm vui sống, không chỉ thể hiện kĩ thuật vẽ tranh điêu luyện mà dường như còn toát lên rất rõ sự yên bình và ôn hòa. Nhưng dường như giáo sư không thấy hài lòng, ông lật giở từng bức tranh mà khuôn mặt không chút biểu cảm.
Đột nhiên, mắt ông bừng sáng. Ông cầm lên một bức tranh và vui mừng nói: “Tìm được rồi! Chính là nó! Đây mới chính là sự yên bình thực sự!”
Mọi người đua nhau vây quanh, tò mò xem rốt cuộc tác phẩm nào có thể khiến giáo sư ngạc nhiên vui mừng đến vậy. Thì ra đó là bức tranh vẽ bầu trời mây đen giăng kín, cuồng phong kéo đến, mặt biển cuộn sóng dữ dội đập vào những tảng đá ngầm tối đen, bầu trời xuống thấp đến bức bối; nhưng ở một góc của bức tranh, có một căn nhà gỗ nhỏ bình yên bên bờ biển, ngọn lửa trong bếp lò bập bùng ấm áp, người ngư dân miệng ngậm tẩu thuốc, đôi mắt khép hờ nằm trên ghế nghỉ ngơi, một chú mèo con ngoan ngoãn nằm dưới chân, người vợ trẻ bên cạnh đang cúi đầu khâu lưới đánh cá, dưới ánh lửa, khuôn mặt của cô thật dịu dàng và xinh đẹp.
Sự yên bình thực sự không phải là trạng thái hoàn toàn không có sự hỗn loạn hay phiền não, mà giống như trong bức tranh kia, mặc dù mưa gió bão bùng nhưng con người vẫn có thể giữ được sự yên bình trong tâm hồn. Để giữ được tấm lòng yên bình, thanh thản, ở đây ý tôi không phải là khuyên bạn lẩn tránh trước hiện thực, tránh xa cuộc sống ồn ào, mà là khuyên bạn hãy giữ lấy sự tĩnh lặng của tâm hồn, giữ được sự thuần phác của mình giữa dòng đời hối hả. Thái Căn Đàm – tác gia nổi tiếng đời nhà Thanh (Trung Quốc) cho rằng: Sự bình tĩnh có được trong môi trường yên tĩnh không phải là sự yên tĩnh thực sự, chỉ khi trong môi trường ồn ào mà vẫn giữ được sự yên tĩnh trong tâm hồn thì đó mới là sự yên tĩnh thật sự phù hợp với bản tính tự nhiên của con người; vui vẻ vào lúc đáng vui không phải là sự vui vẻ thực sự, chỉ khi trong môi trường gian khổ mà vẫn giữ được tâm trạng lạc quan thì mới được coi là niềm vui thực sự phù hợp với bản tính tự nhiên của con người. Qua đó có thể thấy, sự yên bình thanh thản thực sự phải được xuất phát từ nội tâm chứ không phải phụ thuộc vào môi trường. Có nhiều người luôn tìm kiếm sự bình yên, thanh thản cho tâm hồn và cuộc sống nhưng suốt đời vẫn không có được. Xét từ một góc độ khác có thể thấy, cho dù gặp khó khăn trở ngại hay bất an thế nào đi nữa, chỉ cần chúng ta luôn nghĩ tới những điều tốt đẹp là sẽ có thể tìm thấy được sự yên tĩnh cho tâm hồn. Xét cho cùng, chẳng phải phía trước có bóng đen là bởi vì phía sau có ánh sáng hay sao?
Rất nhiều lúc, sự tĩnh lặng của tâm hồn được thể hiện qua sự bình thản. Sự bình thản ở đây chính là tâm thái có thể bình tĩnh tiếp nhận tất cả mọi thực tế của cuộc sống, dù tốt dù xấu. Sự bình tĩnh này thực sự là một trí tuệ lớn.
Kinh nghiệm thực tế nói với chúng ta rằng, người kiên cường, bình tĩnh thì sẽ luôn nhận được sự tôn kính của người khác, bởi vì họ chẳng khác nào cây đại thụ um tùm xum xuê dưới ánh nắng mặt trời gay gắt, tựa như núi đá đứng sừng sững trong mưa bão, và mang trong mình một tâm hồn yên bình mà kiên cường.
Trong cuộc sống, chúng ta không khó để nhận thấy rằng, rất nhiều người vì không thể làm chủ được tâm thái của mình mà đã tự phá vỡ đi cuộc sống vốn yên bình, hạnh phúc; số người thật sự có thể giữ được trạng thái tâm lí bình ổn thì rất ít.
Có một chàng trai trẻ và một ông lão râu tóc bạc phơ cùng ngồi câu cá bên bờ sông. Hai người ngồi rất gần nhau, điều kì lạ là cần câu của ông lão lúc nào cũng có cá cắn câu, còn chàng trai thì ngồi cả ngày mà chẳng câu được gì.
Cuối cùng, không kìm nén được nữa, chàng trai bèn hỏi ông lão: “Ông ơi, mồi câu của chúng ta giống nhau, chỗ ngồi câu cũng giống nhau, vì sao ông có thể dễ dàng câu được cá, còn cháu thì không câu được gì ạ?”
Ông lão cười và nói: “Đó là bởi vì nội tâm của chúng ta không giống nhau. Nhìn bề ngoài, việc làm của hai chúng ta giống nhau, nhưng thực chất thì khác. Cháu đang câu cá, còn ta đang thả câu. Khi cháu câu cá thì chỉ một lòng muốn câu được cá, luôn nhìn chằm chằm xem cá có nuốt mồi câu của cháu không, vì thế khi cháu thấy cá không mắc câu liền cảm thấy nôn nóng, tâm trạng không ngừng thay đổi, cá bị tâm trạng nôn nóng ấy làm cho sợ hãi mà bỏ ra xa. Còn ta, ta đang thả câu, thả câu và câu cá không giống nhau. Khi ta thả câu, ta không cần biết đến sự tồn tại của bản thân ta, cũng không cần biết đến sự tồn tại của cá, cá đến ta không vui, cá đi ta cũng chẳng buồn, tim ta tĩnh như nước, không chớp mắt, cũng không nóng vội, cá không cảm nhận được sự tồn tại của ta, vì thế chúng chẳng cần phải trốn chạy khỏi ta.”
“Không cần biết đến sự tồn tại của ta, không cần biết đến sự tồn tại của cá” là một cảnh giới. Đối với ông lão, thả câu là để tu thân dưỡng tính, ngoài điểm này ra, ông lão còn thu hoạch được rất nhiều cá. Còn đối với chàng trai, trong lòng anh ta chỉ hướng đến cá mà không để tâm tới việc câu cá, vì vậy cuối cùng chẳng thu hoạch được gì.
Những lời ông lão nói với chàng trai là nói về bản thân việc câu cá, nếu nâng lên ở một mức độ cao hơn thì có thể coi là triết học nhân sinh đầy trí tuệ. Cuộc đời con người, những sự hưng – suy, vinh - nhục, được - mất, tiến - thoái không ai có thể làm chủ được, chỉ khi giữ được tâm thế điềm tĩnh, thanh thản thì mới có thể tận hưởng được sự yên bình giữa bao thăng trầm của cuộc sống. Sự yên bình này hoàn toàn thuộc về thế giới tâm hồn, là cảnh giới tinh thần vượt thoát lên trên thế giới thực tại.
Thông thường, một người có nội tâm điềm tĩnh, thanh thản thì sẽ không hành xử nóng vội, tùy tiện và có nhận thức rõ ràng về sự đổi thay của nhân tình thế thái. Ngược lại, nếu nóng vội, quá để tâm đến chuyện được – mất thì chắc chắn trong hành động sẽ có sai sót, tiến thoái không nhịp nhàng, từ đó mất đi khả năng phán đoán chính xác đối với sự vật, sự việc. Vì vậy, người khéo xử lí việc lớn trước tiên phải là người có “tâm an”, “tâm an” ở đây chính là chỉ việc có được một tâm hồn điềm tĩnh, thanh thản.
Điềm tĩnh, thanh thản là tâm thái thản nhiên tự tại mà rất mực khiêm tốn; là tính cách ôn hòa, không bị mê hoặc bởi thế thái phù hoa, không buồn phiền vì hoàn cảnh khốn khó; là kiểu phong thái mà dẫu cho núi Thái Sơn có đổ sụp trước mắt thì thần sắc cũng không biến đổi, hươu chín màu chạy tới cũng không ngoảnh mặt nhìn.
Có tâm thái điềm tĩnh, thanh thản sẽ khiến chúng ta tự biết mình biết người, không tự cao tự đại; có sự điềm tĩnh, thanh thản thì mối quan hệ giữa người với người sẽ có thêm một chút ôn hòa, để khi phải đối mặt với cục diện phức tạp, chúng ta có thể bình tĩnh, ung dung ứng phó.
Tuy rằng có thể hiện tại đang phải đương đầu với phong ba bão táp, nhưng chúng ta cần nhớ rằng, trong đại dương - cuộc sống mênh mông kia, luôn có hòn đảo hạnh phúc, có bến bờ với ánh nắng chan hòa đợi chúng ta cập bến. Người Trung Quốc có câu: “Mặc cho phong ba nổi, ngồi vững trên bệ câu”. “Bệ” ở đây chính là một trái tim điềm tĩnh. Hãy cố gắng điều chỉnh tâm trạng về trạng thái tốt nhất, khẽ nhủ thầm trong lòng “ôn hòa, điềm tĩnh”, khi tâm hồn đã tĩnh lại rồi thì những hư ảo và ác niệm trong lòng sẽ tan theo mây khói, tâm hồn của chúng ta sẽ không bị thế giới bên ngoài quấy nhiễu, những tham vọng và sợ hãi cũng không còn chỗ ẩn thân.

"Cuối cùng thì con người ta, giàu nghèo gì, cũng về đúng căn nhà đó".




Một cái va li nhựa cỡ vừa màu hồng rực. Một cặp kiếng gọng xanh lá non. Một ông già héo quắt nắng cháy đến tận lõi. Những vật chất tưởng chừng rời rạc chẳng liên quan gì nhau, nhưng bện nhau thành một.

Từ lúc ông già xuất hiện với hành trang sặc sỡ, khu chợ căng nhức bỗng chậm lại một nhịp, ai cũng đậu mắt lên kẻ đang kéo va li ung dung băng qua vạch vôi dành cho người đi bộ, hoặc dọc theo vỉa hè cồn cào cuộc bán mua, hoặc đứng/ngồi bên cạnh hành lý mà không làm gì khác.

Sự không làm gì càng lôi kéo sự nhìn vào, mùa này là mùa sôi sục kiếm tiền, sao có kẻ thờ ơ chẳng thiết. Rõ là khùng, nhưng thái độ nhàn nhã, thong thả của ông già khiến người ta ngờ. Ông khùng thật, hay là không? Sao đôi lúc ánh mắt ông nhìn kẻ lại người qua như cảm thương, chua xót?

Sao phơi thân ra dưới trời, đày đọa mình trong mưa nắng, mà mắt mũi mãn nguyện vậy? Ừ thì đúng khùng mới kéo va li luẩn quẩn mãi trên đoạn đường ngang qua chợ, nhưng chúng ta tỉnh mà cũng có thoát khỏi những con đường đâu, cũng xuôi ngược rạc rài chẳng biết bao giờ thực sự dừng.

Ngay đây thôi, trong tầm tay, tầm mắt, nhưng cảm giác ông già ở cõi nào đó, khác. Cách ông nhẩn nha lui tới khiến ta tin nơi chốn ông đang nhúng mình vào chẳng tạp nhiễm bởi âm thanh của những kỳ kèo ngã giá, tiếng còi xua người nán chờ đèn xanh, tiếng chửi bậy sau cú tạt đầu xe, tiếng rao hàng được thu sẵn tăng âm hết cỡ.

Nơi chốn không có những cây cân đã được chỉnh già, những sạp rau đẫm thuốc sâu, những thứ hải sản tắm mình trong hóa chất. Cả những người đứng ra che chắn, giúp đỡ ông già qua cơn mưa rào, hay cơn khát, cũng như thể được hít thở thứ không khí lanh lảnh cõi bên kia.

Chỉ có vậy anh bảo vệ cửa hàng điện máy mới che dù cho ông già đến tàn mưa mà chẳng vẻ gì sốt ruột, hay anh xe ôm những trưa nâng ly nước mía trước mặt ông già, tay kia giữ ống hút, nhẫn nại chờ tới khi nước cạn đến đáy.

Những lúc vậy, hỏi ông đi đâu đây, ông sẽ bảo đang đi về nhà, hỏi nhà đâu thì ông chỉ vào ngực mấy anh nói nhà đây. Nhưng khi người dưng không ở cạnh, hỏi nhà đâu ông già sẽ chỉ tay vào đất, bằng chất giọng cả quyết, “nhà đây”.

Những kẻ hỏi han ông già đa số là muốn chọc ghẹo cho vui, chỉ vài người thật sự tò mò, hy vọng đầu óc vô minh nhưng còn chút nhớ nơi chốn mình thuộc về. “Cái nhà quan trọng với con người ta lắm, như cái tên vậy”, một người bùi ngùi.

Kẻ nói câu ấy ngày nào cũng bắc cái ghế ngồi trước nhà bán nước sâm, nên chứng kiến ông già va li hồng diễu hành qua mấy lượt. Trước bà cáng đáng cả tiệm cơm phần, nhưng mấy cái khớp chân viêm nặng, cuộc mua bán trở nên lay lắt.

Căn nhà một trệt một lầu sau lưng người đàn bà được một tay bà dành dụm cất lên. Bà tin ở nhà cao cửa rộng mới gọi là ở.

Tin nhìn vào nhà đánh giá được giàu nghèo. Hồi kéo xe dừa tươi bán dạo, mỗi khi nép vào trú mình dưới cái bóng đậm đặc nhà ai đó, bà nhớ bóng nhà mình.

Cái bóng mỏng dính nằm ở bên sông, nơi có hãng nước mắm được coi là bề thế nhất thì cũng xuống cấp, vài ba nhà máy nước đá xập xệ, những trại cưa trại xuồng, dãy nhà sàn ọp ẹp chắp vá của dân lao động nghèo. Lúc đó bà nuôi một ý nghĩ ráo riết, mình sẽ đắp dài và dày bóng nó.

Giờ thì bà, trong những chuyển động cực hình với các khớp xương mục rã, di chứng của tháng năm lao lực, đã an trú dưới mái nhà mặt phố kiên cố, vẫn nghĩ bóng này chưa đủ chắc, dày, nên khi ngó vào ông già khùng nọ, bà giận hung.

Ông nhắc bà nhớ mình rồi cũng phải dọn đến nơi chốn khác, và dẫu thu vén chẳng chút nào ngơi, có thể bóng căn nhà cuối cùng ấy vẫn mỏng dính đến không che được cỏ. Nhưng bất chấp bao cảm xúc chung quanh, ông già tỉnh rụi.

Chờ đèn dành cho người qua đường bật xanh dưới nắng trưa, có khi xanh đến mười lượt mà ông vẫn đứng y một chỗ. Đứng đó và không làm gì, va li dựng ngay trước mặt.

Đôi lúc cột điện che khuất ông, không thấy nhân dạng đâu, nhưng nhìn hành lý người ta vẫn biết ông đang ở đó, đang nghỉ chân trong chuyến đi vô tận của chính mình.

Ông không biết mình thường được người đời nhắc trong bữa cơm, cuộc nhậu, những trò chuyện bâng quơ lúc trời đất mù mưa.

“Không biết thằng chả sắp tới nhà chưa”, ai đó thốt lên. Có thể là bà già nước sâm, ông nha sĩ có phòng răng hoang vắng, tay bảo vệ quán bar xăm trổ, chị bán bánh gai vừa bỏ chồng. Nhắc ông già va li hồng, lâu rồi người ta không còn ra giọng chạnh lòng hay cười cợt.

Họ còn gật gù khen phải, khi nhắc lại hành động chỉ tay vào bề mặt trái đất nói đây nhà mình. Cũng có lý chớ không phải không, cuối cùng thì con người ta, giàu nghèo gì, cũng về đúng căn nhà đó.

Nghĩ vậy, nhìn ra cuộc bán mua cảm giác được hơi ấm của bến bờ, nhìn thấy cái khối hình xa mờ. Bên kia đường, ông già ngồi xếp bằng trên gạch vỉa hè và không làm gì, không nhìn gì, đầu hơi nghiêng như mải lắng nghe tiếng gọi của hư vô.


---

BÊN CÕI

(Nguyễn Ngọc Tư, truyện ngắn đầu xuân trên báo TTO)


4 THỜI ĐIỂM BẠN NHÌN RÕ SỰ CHÂN THÀNH TỪ NHỮNG NGƯỜI XUNG QUANH DÀNH CHO MÌNH.



4 thời điểm vàng sẽ khiến bạn “giật mình” nhận ɾa những quy luật vốn hiện hữu của đời người mà đôi khi chúng ta lơ là quên mất.


1. Khi gặp hoạn nạn.


Người đời có câu: ” Cuộc đời là bọt nước. Chỉ có hai điều như đá tảng: tử tế khi người khác lâm nạn và can đảm tɾong hoạn nạn của chính mình”. Khi sóng yên biển lặng, xung quanh chúng ta có ɾất nhiều bạn bè người thân, tay bắt mặt mừng, vui cười thắm thiết, thế nhưng, khi gặp biến cố cuộc đời, liệu tɾong số bằng hữu ấy, bao nhiêu người có thể ở lại để đương đầu, nâng đỡ, dìu dắt ta qua sóng gió.

Chỉ có chính chúng ta, gia đình và những người bạn thân thật sự mới có thể vực ta dậy sau cơn hoạn nạn cuộc đời. Và cũng nhờ đó, ta mới nhìn thấu được lòng người ngay giả, ai quân tử, ai tiểu nhân, từ đó.


2. Khi lâm bệnh nặng.


Lúc còn tɾẻ, chúng ta có lợi thế về thời gian và sức khỏe, vì thế, đa phần không biết quý tɾọng, lao mình vào những cuộc vui thâu đêm suốt sáng, sử dụng chất kích thích, bạc đãi chính cơ thể của mình. Hoặc cũng có thể, vì ham kiếm tiềη, nên làm việc quá độ, khiến thể chất ngày càng suy nhược, đến khi lâm bệnh nặng, nằm tɾên giường bệnh, mới thấm thía sức khỏe quan tɾọng đến nhường nào.

Bạn không thể nào cảm thấy hạnh phúc với một cơ thể không khỏe mạnh. Dù tiền bạc, của cải, hay những thú vui kia có hấp dẫn thú vị như thế nào thì cũng chỉ toàn là vô nghĩa.

Vì thế, khi bệnh nặng, chính là lúc cuộc đời dạy bạn cách tɾân tɾọng sức khỏe – món quà vô giá của chính bản thân mình.


3. Khi về hưu


Khi ta ở đỉnh cao danh vọng, chức tɾọng quyềп cao thì luôn được săn đón bởi biết bao nhiêu người. Nhưng một khi quyềп lực đã không còn tɾong tay thì cục diện hoàn toàn thay đổi. Những kẻ xu nịnh tɾước kia, nay nhìn thấy ta cũng coi như không quen biết. Những người tưởng chừng như anh em thân thiết bỗng cũng hóa xa lạ, lạnh lùng.


Nhiều người sau khi về hưu mới có thời gian ngồi ngẫm nghĩ lại cuộc đời mình. Tham gia ᴄôпg tác nhiều năm, vì ham chức ham quyềп mà cấp tɾên chèn ép cấp dưới, vì muốn thăng quan tiến chức mà đồng nghiệp đấυ đá lẫn nhau.

Thế nhưng, những thứ đạt được cũng chỉ là vật ngoài thân, người mất đi ɾồi cũng chẳng mang theo được. Dù là lãnh đạo hay nhân viên, cấp tɾên hay cấp dưới, đến cuối cùng chẳng phải cũng đều về hưu sao?

Sớm biết chẳng có gì khác nhau thì tɾước đây hà tất phải tɾanh đấυ?

Hãy làm tốt việc của mình, đối xử chân thành với người khác, đó mới là việc nên làm. Hãy học cách sống khiêm nhường để không bị sự tự cao che mờ mắt, khiến ta tɾở nên ích kỷ và thiển cận.


4. Khi tɾút hơi thở cuối cùng.


Tɾớ tɾêu thay, lâm chung là lúc con người tɾở nên thông suốt nhất. Cuộc đời này quá ngắn mà cũng quá dài. Mọi ân oán tình thù đều chỉ như mây khói, ta hà tất phải cố chấp với chúng mà không học cách buông bỏ? Khi đã hiểu được đạo lý ấy cũng là lúc con người có thể nhắm mắt xuôi tay, ɾa đi thanh thản.

St 

Một nửa người đàn ông


image


Cô chăm chú sửa lại bản thảo của cuốn tiểu thuyết một lần chót, trước khi mang sang nhà in. Làm công việc sửa đổi văn chương bản thảo cho nhà xuất bản, không lúc nào mà cô rảnh rỗi được. Trong tháng này có 5 cuốn truyện dài sẽ được in, cả 5 cuốn đều là sách của tác giả có sách xuất bản lần đầu.
Cô nghe tiếng gõ cửa, rồi chiếc đầu của người tùy phái ló vào.
“Thưa cô, có một bà muốn gặp cô”
“Ai vậy, ông có hỏi tên hộ tôi không? 
“Tôi có hỏi, bà âý nói tên là Lan”.
Cô cố nhớ tên của các tác giả mới trong đầu. Không có ai là Lan cả, họ đều là phái nam. Cô nói với người tùy phái;
“Ông mời hộ bà Lan vào văn phòng ngoài đó, tôi sẽ ra. Cũng sắp đến giờ tôi đi ăn trưa rồi.”
Đợi cho người tùy phái khuất sau cánh cửa, cô quay điện thoại gọi bạn:
“Hôm nay em muốn đi ăn mì ở Hải Ninh, em sẽ đến đó độ 20 phút nữa, em có một người khách đang chờ. Nhưng em sẽ tiếp họ 5 phút thôi.” 
 Người đàn bà khỏang ngoài 45 tuổi, ăn mặc giản dị nhưng lịch sự, nét mặt khô nhưng trí thức. Bà ta ngồi yên không đứng lên khi cô xuất hiện. Cặp chân mày hơi cau lại một chút, bà chờ cô tự giới thiệu trước.

Cô hơi khựng lại một giây,nhưng tự chủ được ngay, cô quen với những người đến gặp cô để nhờ vả, nên cô hỏi với giọng không được vồn vã lắm:
“Tôi là Tâm, bà cần gặp tôi có việc gì?”
Người đàn bà nhìn thẳng vào mặt cô, nói chậm và ngắn.
“Tôi là vợ của ông Ngọc.”



Cô đứng lặng, nghe như có một đường nước mưa lạnh vừa chẩy từ cổ áo xuống lưng. Cô biết chuyện này rồi thế nào cũng đến, nhưng cô không thể đoán trước là nó đến vào buổi trưa hôm nay. Cô biết rất rõ mình phải nói gì với bà Lan. Cô lấy lại bình tĩnh, kéo một chiếc ghế ngồi đối diện với vợ của người yêu mình (hay người mình yêu, cũng thế.) 

Cô ngồi yên, thở một hơi thật sâu, quan sát một bà vợ. Vợ của người đàn ông mình đang liên hệ. Cô muốn biết chắc người đàn bà này sẽ hiểu những điều mình sắp nói.

Cô đi thẳng vào vấn đề hộ người đàn bà.
“ Chắc bà đến đây để cho tôi biết là anh Ngọc đã có gia đình. Thưa bà, tôi biết điều này đã lâu. Và không bao giờ tôi có ý định kéo anh Ngọc ra khỏi gia đình của anh ấy.” Cô nói luôn một hơi dài. 
Người đàn bà ngạc nhiên về sự bình tĩnh của cô, bà ngẩn ra một lúc ngắm tình địch của mình. Trước mặt bà là một phụ nữ trẻ( chắc chỉ lớn hơn con gái lớn của bà bốn, năm tuổi.) Hai con mắt sáng trên một khuôn mặt nhỏ, cắt tóc ngắn, mặt không phấn chỉ thoa một chút son mầu san hô nhạt, cùng mầu với chiếc sơ mi, chiếc quần jeans đen sát vào người, cô hơi gầy. Cả người cô toát ra vẻ vừa thông minh vừa bướng bỉnh. 
Bà tự hỏi. “Cái vẻ nào của người con gái này đã quyến rũ chồng mình?”
Bà hỏi lại với giọng hơi ngập ngừng:
“ Cô không bao giờ có ý định kéo anh Ngọc ra khỏi gia đình của anh ấy thì tại sao cô đi lại với anh ấy cả hai năm nay, có điều gì bảo đảm là cô sẽ không lấy anh ấy một ngày gần đây?” 




Cô điềm đạm:
“Thưa bà đã hai năm nay, từ khi anh Ngọc  có liên hệ với tôi, ngày nào anh Ngọc cũng có mặt ở nhà một bữa ăn. Hôm thì về ăn trưa, hôm thì ăn cơm chiều. Buổi tối, anh Ngọc ngủ ở nhà, lương đem về không thiếu một đồng. Như thế không chứng tỏ được là tôi sẽ chẳng bao giờ muốn chiếm đọat anh ấy của bà hay sao?”
Người đàn bà ngẩn ra vài giây trước lý luận lạ lùng của cô. Bà ta chưa biết phải nói gì thì cô đã tiếp, cô nói như cô đang tâm sự với một người bạn thân hay có thể cô ta đang viết một trang tiểu thuyết thì cũng thế.
 “ Xin bà cứ an tâm. Anh Ngọc kết bạn với tôi là một sự an toàn cho hạnh phúc gia đình của bà. Thú thực với bà, tôi đã hơn 30 tuổi. Nhưng không bao giờ tôi có tư tưởng muốn lệ thuộc, hay muốn làm sở hữu chủ nguyên một người đàn ông. Tôi xin lỗi bà khi phải nói điều này. Tôi không hiểu được tại sao phần đông những người đàn bà trên mặt đất này lại có thể đặt mình lệ thuộc vào một người đàn ông nguyên một ngày, rồi những ngày đó kéo ra cả suốt đời mình. Hay có người đàn bà muốn làm chủ một người đàn ông như làm chủ một ngôi nhà, một cái thuyền, một chiếc xe. Rồi khi không ưng ý cũng không làm sao mà đem cầm, đem bán đi được như cái xe, như ngôi nhà. Đành đợi đến ngày họ chết mới đem chôn xuống đất. 
Tôi chỉ có thể ăn một bữa trưa với anh Ngọc, hoặc một bữa chiều, gặp mặt vài tiếng trong một ngày. Nếu bây giờ anh Ngọc đòi hỏi tôi phải là của anh ấy 24 giờ trong một ngày, phải buộc vào một tờ văn tự như giấy chủ quyền động sản, hay bất động sản, thì chắc chắn là tôi sẽ chấm dứt sự liên hệ lập tức.



Bà không mất mát gì cả. Anh Ngọc là người đàn ông đào hoa, anh ấy không có tôi, anh ấy sẽ đi với người khác. Lúc đó bà mới nên lo ngại. Nếu tôi không có anh Ngọc, dĩ nhiên cũng rất nhiều người đàn ông khác muốn đến làm bạn với tôi. Vì họ biết tôi không bắt họ cưới hỏi, không lệ thuộc vào họ, cũng không muốn làm chủ họ, tôi không nhận quà tặng, khi đi ăn, đi chơi thì tôi cũng thay phiên trả tiền.
Người đàn bà ngắt lời cô bằng một cái khoát tay, trước khi nói.
“ Thế cô cho là cô chỉ gặp anh Ngọc có mấy tiếng một ngày, không phải là chiếm đoạt hay sao ?”
“Thưa bà, tôi xin hỏi lại. Trong một ngày của bà, bà nghĩ đến bà bao nhiêu tiếng? Bà nghĩ đến anh Ngọc bao nhiêu tiếng? Chúng ta, ai cũng có thế giới riêng của mình, và ai trong một lúc nào đó chắc cũng muốn người khác để cho mình được yên thân. Những lúc bà không cần có anh Ngọc bên cạnh, thì việc anh ấy đi đâu và làm gì có quan trọng lắm không?

Tôi biết bà đang nghĩ gì trong đầu. Chắc bà cho tôi là một người mất thăng bằng. Hay có thể là bà cho tôi đang tìm cách lừa bà, để một ngày nào đó tôi sẽ chiếm đoạt nguyên cả anh Ngọc. 
Không, không bao giờ tôi cần nguyên một người đàn ông cả, tôi chỉ cần một nửa thôi. Có nhiều người phải uống nguyên một ly trà mới thấy vị ngon, phải ăn nguyên một trái táo mới hài lòng, phải đến được chân núi, hay trèo lên đỉnh núi để thưởng thức thì mới mãn nguyện, sông thì phải đi hết dòng mới thỏa chí, phải được lấy nguyên một ông chồng và được gọi là vợ thì mới cho là sung sướng. Tôi thì trà uống một ngụm, táo cắn một miếng, núi nhìn một góc, sông yêu một khúc, đàn ông hưởng một nửa. Suốt đời chỉ là người tình thì cũng đã thấy mình dư thừa hạnh phúc. Bà cứ an lòng ra về. 

Người đàn bà kéo ghế đứng lên, bà thấy không cần phải nghe thêm nữa. Bà biết có nói gì cũng vô ích.Ngọc sẽ không bao giờ buông được người con gái đầy quyến rũ lạ lùng mà không ai phải cưu mang này. Và cô ta là người sống với những sản phẩm của tưởng tượng đó thì cũng sẽ chẳng bao giờ muốn thế chỗ của bà. Bà ra về. Họ không chào nhau. Nhưng người tình đứng nhìn theo cho đến lúc cái bóng của người vợ khuất ở một ngã rẽ.




Bà không an lòng chút nào như lời khuyên của cô. Bà vừa đi vừa nghĩ về những câu nói của tình địch, bà phân vân tự hỏi. Cô ta là nhà văn, cô làm việc cả ngày với chữ, là những tưởng tượng của riêng cô và của thiên hạ trộn chung vào với nhau. Những điều cô nói ra là mặt thật của đời sống, hay chỉ là một chương sách cô vừa đọc hoặc cô sắp viết? Nhưng thật hay không, đời sống hay tiểu thuyết. Những lời đó làm bà phải lưu ý. Gần hai chục năm nay taị sao bà lại để mình lệ thuộc vào nguyên một người đàn ông như thế? Nếu bà biết sớm suy nghĩ như cô ta, chỉ cần giữ một nửa thôi, thì cuộc sống sẽ thanh thản biết bao ! 
Cô đổi ý định ra ngoài ăn trưa, cô nhờ người tùy phái ra mua thức ăn đem về sở. Cô gác ống điện thọai ra ngoài. Một nửa người đàn ông hôm nay cô cũng không thấy hấp dẫn nữa.


Trần Mộng Tú




Anh sẽ nấu cháo cho em

 

Dự đám tang của người bạn xong, anh lái xe như bay về nhà. Mở cửa vào, anh thấy vợ đang nằm cuộn tròn trên sofa ngủ quên.


Câu chuyện của người chồng ngày nào cũng nấu cháo trắng cho vợ…


Gạo là gạo nếp, nồi là nồi nung từ đất sét, bếp là bếp than. Ngày nào cũng vậy, cứ 4h20’ sáng là anh trở dậy, chuẩn bị nhóm bếp, đổ nước vào nồi, vo đãi lại gạo đã được ngâm sẵn trong nước từ trước.


Đợi nước sôi, anh cho gạo vào nồi, đun to lửa 10 phút rồi để lửa liu riu. Nước trong nồi thỉnh thoảng lại trào ra, anh đứng cạnh khom lưng, dùng muôi quấy nhẹ…


Nửa tiếng sau, anh một tay bưng bát cháo nóng hổi, một tay bưng đĩa rau xào thái chỉ thơm phức vào phòng ngủ, gọi cô dậy.


Cô xoay người lại, lẩm bẩm câu gì đó rồi lại quay vào ngủ tiếp. Anh không nỡ gọi tiếp.


Ngồi trên đầu giường, nhìn đồng hồ rồi lại nhìn cô, rồi lại nhìn đồng hồ. Cô đột nhiên đang nằm liền bật dậy như lò xo nhìn đồng hồ, vội vã mặc quần áo rồi ra khỏi giường, trách móc: “Muộn mất rồi, sao anh không gọi em dậy?”


Anh lại đưa bát cháo về phía trước: “Không phải vội, vẫn còn thời gian, em cứ ăn hết bát cháo này trước đi đã.”


Cháo chỉ có gạo nấu thành, không cho thêm bất cứ thứ gì. Những bát cháo như thế, cô đã ăn suốt 5 năm nay. Khi anh và cô kết hôn, nhà không có tiền để tổ chức tiệc mừng, hai người về ở với nhau, thế là thành một nhà.


Đêm tân hôn, anh mang một bát cháo trắng cho vợ và nói: “Dạ dày em không tốt, ăn nhiều cháo trắng một chút, có lợi cho dạ dày.”


Cô ăn, bát cháo trắng thanh đạm không chỉ làm ấm dạ dày mà còn làm sưởi ấm cả trái tim cô.


Họ cùng làm việc trong một nhà máy, cô là nhân viên ca sáng thường niên, anh là nhân viên ca đêm thường niên. 4h sáng anh hết giờ làm, 5h30 sáng cô đi làm, thời gian họ ở cùng nhau chỉ có hơn một tiếng đồng hồ.


Việc đầu tiên khi anh đi làm về là nhóm bếp, nấu cháo. Anh chỉ biết nấu cháo trắng. Điều kiện kinh tế của họ có lẽ cũng chỉ cho phép anh nấu được cháo trắng mà thôi.


Cứ mỗi ngày một bát cháo trắng như thế, anh làm cho nét mặt vợ ngày càng nhuận sắc, lúc nào cũng tươi đẹp như hoa.


Về sau, tình hình kinh tế của nhà máy không được tốt, anh nghỉ việc nhưng sống thì vẫn phải sống. Anh rút tiền tiết kiệm, cô bán chiếc nhẫn mà mẹ cho khi cưới, gom góp lại mở một tiệm tạp hóa nhỏ bán nồi niêu bát đĩa.


Lợi nhuận không đáng là bao nhưng anh vẫn cần mẫn làm việc. Cô tan làm cũng ra phụ anh bán hàng. Những lúc không có khách, hai vợ chồng ngồi cạnh đống đồ, nhìn nhau hạnh phúc.


Anh nói: “Đợi anh có tiền, chúng ta sẽ mở hẳn một chuỗi cửa hàng, ở đâu cũng có.”


Cô nghe vậy liền nói: “Đến lúc đó, em sẽ không đi làm nữa, ngày ngày ở nhà làm đồ ăn ngon cho anh.”


“Cần gì em phải nấu, muốn ăn gì chúng ta cứ ra thẳng nhà hàng thôi”, anh nói.


Nhưng cô gạt phắt: “Không, em chỉ thích ăn cháo trắng anh nấu…”


Anh liền ôm lấy vai cô, ánh mắt họ nhìn nhau đầy ấm áp và trìu mến. Anh vẫn giữ thói quen cũ, đúng 4h20’ dậy nhóm bếp, vừa nấu cháo vừa nhẩm tính hàng hóa.


Có những lúc phân tâm, nồi cháo cạn đến gần đáy nồi; có những lúc mệt quá ngủ gật, cháo tràn hết cả ra ngoài.


Một hôm, cô dậy khá sớm, thấy nồi cháo trên bếp đang sôi sùng sục, chuẩn bị trào ra ngoài. Anh đang gục đầu trên gối, ngủ ngon lành.


Cô nhẹ nhàng ôm đầu chồng, trong lòng xót xa. Từ đó về sau, cô quyết định không cho anh nấu cháo cho mình nữa. Người đàn ông của cô quả thực đã quá vất vả rồi.


… và thói quen bị quên lãng


Công việc làm ăn của anh ngày càng thuận lợi, đến đầu năm thứ 7, quả nhiên chuỗi siêu thị của anh đã được mở khắp nơi.


Cô cũng đã nghỉ việc, ở nhà chuyên trách làm vợ. Họ đã mua được nhà, bếp cũng được sửa rất đẹp, thứ còn thiếu chỉ là mùi vị của cái bếp than ngày xưa. Thời gian anh ở nhà ăn cơm càng lúc càng ít, anh bận lắm, có những hôm một buổi tối phải tham dự 3, 4 bữa cơm khách.


Ban đầu, cô cũng trách nhưng anh nói: “Chẳng phải là vì gia đình này sao, chẳng phải là muốn em sống tốt hơn một chút sao?”


Về sau, cô cũng mệt mỏi, dần cũng thành quen. Lâu lắm rồi, cô không ăn cháo trắng do anh nấu.


Một hôm, anh đột nhiên được thông báo đi dự đám tang của một người bạn. Lòng anh u sầu, ủ dột. Vài ngày trước còn khỏe mạnh, sao hôm nay đã đi rồi.


Tại nhà tang lễ, nhìn thấy vợ bạn, đó là một người phụ nữ nho nhã xinh đẹp, chỉ một đêm đã tiều tụy vì thương chồng. Cô khóc như chết đi sống lại, luôn miệng nói: “Sau này ai đưa đón em đi làm, ai buộc dây giày cho em…”


Bất giác, anh nghĩ đến vợ, nhớ đến những buổi sáng nấu cháo trắng cho cô, nhớ đến cảm giác hạnh phúc và mãn nguyện khi ngày ngày cô nhận bát cháo trắng từ tay mình.


Dự tang lễ xong, anh lái xe như bay về nhà. Mở cửa, anh thấy cô đang nằm cuộn tròn người trên sofa ngủ quên. Ti vi vẫn mở, rạp chiếu phim trong nhà cũng mở, các loại tạp chí để la liệt trên mặt bàn trà. Anh quỳ xuống cạnh sofa, tay vuốt nhẹ những sợi tóc của vợ.


Nét mặt cô nhợt nhạt quá, trên những nếp nhăn nhỏ hiện rõ sự cô đơn. Anh xót xa, kéo chăn đắp cho vợ, cô chợt tỉnh ngủ. Thấy anh, cô dụi dụi mắt, biết chắc là chồng, cô nở một nụ cười ấm áp rồi vội vã trở dậy: “Anh chưa ăn gì phải không, để em đi nấu.”



Anh quàng tay ôm lấy cô từ phía sau. “Không, để anh làm, anh sẽ nấu cháo cho em.”


Cô im lặng một hồi không nói gì, hai hàng nước mắt nóng hổi trào ra, rơi xuống tay anh. Hôm đó, anh mới nhận ra một sự thật, rằng giờ đây, đã có không biết có bao nhiêu loại cháo được tạo ra nhưng loại nào cũng phải lấy cháo trắng làm cốt.


Hạnh phúc gia đình cũng vậy, phải có cái cốt là sự vun vén của cả hai phía vợ và chồng.


Hạnh phúc là gì?


Hạnh phúc không phải là ăn sung mặc sướng, ăn ngon mặc đẹp, không phải là vinh hoa phú quý, ở nhà lầu đi xe hơi.


Hạnh phúc là lúc bạn khóc có người xót xa, khi bạn mệt có người để tựa nhờ. Hạnh phúc là có một người hiểu mình, yêu mình, không cần biết anh ta có bao nhiêu nhưng vẫn luôn dành cho bạn những thứ tốt nhất, nhiều nhất có thể.


Hạnh phúc là chỉ cần trong tim người đó có bạn, dù anh ta có phải là người giàu có hay nghèo khó.


Hạnh phúc rất đơn giản, chỉ cần vui vẻ là đủ!


Cảm động thực ra cũng là một dạng hạnh phúc. Trong cuộc sống, mỗi người rồi cũng sẽ có lúc mệt mỏi, muốn thu mình lại. Nhưng chỉ cần bạn còn được người khác nghĩ đến, còn có người quan tâm, đó cũng là một niềm vui quá lớn!


Hạnh phúc như thế trong mắt nhiều người có lẽ quá bình thường, nhưng đó có thể lại là niềm mơ ước của rất nhiều người khác…


Sưu tầm

Và tôi vẫn nói, "nơi đáng sống" "có thể là nơi người ta cảm thấy vui, là nơi thuộc về mình




Trong một bài viết có tiêu đề là "Di cư", tôi từng viết: "... người ta chuyển nơi ở dù gần hay xa trước hết là tìm cho mình hay gia đình một tương lai phát triển. Đạt được rồi, có người không hài lòng, so sánh, rồi muốn hơn nữa, Đó là sự khác biệt giữa tĩnh và động, ngưng và chuyển, mưu cầu hạnh phúc. Từ xưa  còn người di từ núi xuống đồng bằng, di dần về phương Nam. Thời hiện đại di từ tỉnh lên thành, di từ trong ra ngoài nước. Không cứ người Việt, làn sóng di dân đến nước phát triển, ai cũng muốn tìm hai chữ "an lạc"".

Ở một bài khác tôi lại viết:" Chợt nhớ người ta thường nói: “thành phố đáng sống nhất”, “nơi đáng sống nhất”... làm gì có, viễn vông. Chẳng đâu là thiên đường ở cõi này, dù được sống tiện nghi, vật chất thừa thãi. Mà để có phải cố làm việc, không thể đi ăn cắp, ăn trộm. Có thể nơi người ta cảm thấy vui, chính là nơi thuộc về mình, nơi quen thuộc nhất … Quen thì vui, đáng sống.". Đó là thiển ý của tôi về nơi mình sống.

Một người bạn hỏi tôi: "Từ bao giờ người ta bỏ làng mạc, bám theo các trục đường giao thông để sống, buôn bán…". Đây là một vấn đề lớn, hiện đại, chịu tác động bởi quan điểm, chính sách của nhà nước và suy nghĩ của người dân.

Làng vốn ban đầu là những công xã nông thôn - địa điểm tụ cư của những người dân gắn bó với nhau trên quan hệ địa vực là chủ yếu. Từ quan hệ láng giềng “bán bà con xa, mua láng giềng gần” nên người Việt với người Việt yêu thương nhau, gắn bó với xóm làng. Giá trị đó khiến làng xã xưa bình yên.

Lúc đầu, làng Việt Nam là những công xã nông thôn, là những kẻ, chiềng, chạ. Đứng đầu là các bô lão nhiều tuổi, có uy tín.. Họ "quyết định mọi công việc lớn nhỏ, quyết định việc dời làng,việc chiến hay hòa, giải quyết những việc giao dịch hay tranh chấp, phân xử những vụ vi phạm luật tục, định mức phạt vạ”. Trên cơ sở thống nhất các bộ lạc, liên minh bộ lạc, tộc Lạc Việt và tộc Âu Việt, nhà nước Văn Lang - Âu Lạc ra đời. Để quản lý bên dưới, vua dựa vào các Hội đồng bô lão do Bồ chính đứng đầu do dân làng bầu. Nhà nước ít can thiệp vào. Càng về sau, suốt thời Trung đại, Cận đại, tình nghĩa xóm làng được đẩy lên cao, thành tình yêu đất nước. Cặp đôi khái niệm làng - nước luôn thường trực trong tư duy và đời sống của người Việt. Tính cộng đồng của làng xã đã chuyển thành ý thức cộng đồng của quốc gia:

 “Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng".

Tính cộng đồng làng xã là cơ sở tạo nên tính đồng nhất trong hàng loạt khía cạnh như đồng tộc, đồng niên, đồng hương, đồng nghiệp và tất yếu dẫn đến sự đồng nhất trong phạm vi quốc gia. Đồng bào cùng sinh ra từ một bọc trứng, từ đó giúp cho người Việt gắn bó, yêu thương, coi như ruột thịt.

Nếu như quan hệ giữa các thành viên trong làng mang tính cộng đồng thì trong quan hệ với các cộng đồng bên ngoài và với chính quyền cấp trên làng lại mang tính chất tự trị, tự quản cao. Tính tự trị là một đặc điểm lớn của làng xã Việt Nam truyền thống, đó là “tự điều chỉnh - tự điều khiển của làng xã trong quá trình vận động của kinh tế xã hội. Tự điều chỉnh, tự điều khiển là ít chịu sự can thiệp trực tiếp của các cấp chính quyền bên trên, là sự vận hành đa tuyến của xã hội dân sự”. Nhà nước chỉ can thiệp vào làng xã trong việc thu thuế, bắt lính, xử lý những vụ án hình sự, hay những vụ tranh chấp dân sự làng không hòa giải được, can thiệp khi có dịch bệnh lớn, còn lại thuộc quyền tự trị, tự quản của các làng xã. Do tính chất tự trị, tự quản cao nên người ta đánh giá làng xã cổ truyền “như một nước cộng hòa thu nhỏ”, với những thiết chế  chặt chẽ, những quy định bảo đảm “dân chủ làng xã” và cố kết cộng đồng rất cao. Làng là một đơn vị tụ cư truyền thống của người nông dân Việt ở nông thôn, có địa vực, cơ sở hạ tầng, cơ cấu tổ chức, phong tục, tập quán, tâm lý, quan niệm, tính cách và cả “hương âm”, "thổ ngữ" tức "giọng làng" riêng, hoàn chỉnh và tương đối ổn định. Đặc biệt, để duy trì trật tự, nền nếp, mỗi làng đều có hương ước, được coi như bộ luật của làng. Cơ cấu tổ chức làng xã xưa đơn giản nhưng chặt chẽ, hệ thống tổ chức gồm Hội đồng hương chính và Lý trưởng do dân làng tự bầu, Nhà nước phê chuẩn, nếu vị chức sắc nào thực hiện trách nhiệm kém cỏi hay có sai phạm, dân làng sẽ bầu người khác thay thế. Làng có đội ngũ tuần phiên, có trách nhiệm bảo vệ an ninh, trật tự trong làng và ngoài đồng. 

Một thực tế từng tồn tại ở làng xã “là đơn vị sở hữu và điều tiết, phân phối nguồn tài sản lớn nhất của cộng đồng là ruộng đất công trên cơ sở phép nước lệ làng, còn nhà nước chỉ nắm ruộng đất xã thôn trên danh nghĩa với mục đích chính là thu thuế”. Dù trên nguyên tắc nhà nước thực hiện chế độ chuyên chế trung ương tập quyền. Nhưng khi các làng khai báo ruộng đất công lên cho nhà nước làm sổ điền bạ đã giữ lại một bộ phận để làm ruộng hậu thực hiện các công việc chung của làng xã hay là những ruộng đất khai hoang thêm của dân trong làng sau đó cũng nằm ngoài sổ quản lý của nhà nước. Đó là ruộng cho giáp, cho chùa, cho đình, cho hội Tư văn, cho các chức dịch từ xã trưởng đến mõ, mà nhà nước trung ương không thể kiểm soát nổi”. Tình hình này phổ biến nhiều hơn ở các tỉnh ở Đàng trong khi diện tích chưa khai khẩn còn một lượng lớn. Như thế làng vẫn có sức mạnh riêng, phần nào mang tính tự trị quản lý về tư liệu sản xuất, "phép vua thua lệ làng".

Nhìn chung làng trước đây dân trí thấp, phần lớn không biết chữ nhưng “nếp sống văn hóa lại khá cao”, những người có chữ nghĩa trong làng rất được tin cậy và tôn trọng. Người có chữ nghĩa tham gia Hội đồng, được bầu làm chức dịch. Do vậy mà người dân rất trọng học, mong con cháu được học hành, đỗ đạt thành tài. Làng nước trọng văn, trọng đức nên trong xã hội coi trọng "kẻ sĩ", được xếp đầu các nghề trong xã hội: sĩ, nông, công, thương. Biểu tượng truyền thống của tính tự trị là lũy tre. Rặng tre bao bọc quanh làng trở thành một thứ thành lũy kiên cố, bất khả xâm phạm. 

Ở miền Nam, tôi cho rằng làng xã hơi khác miền Bắc. Dân làng ở rải rác trên địa phận làng, không hợp nhau thành xóm, chung quanh làng không có lũy tre xanh, ở miền Tây có thể phân chia ranh giới qua kênh rạch, con sông. Làng ở miền Nam thường rộng lớn hơn, chia làm nhiều ấp. "Đất lề quê thói", sự khác biệt là tất nhiên để phù hợp với hoàn cảnh địa lý, với khí hậu và với dân tình. Tuy nhiên dân quê hiền lành chân chất vẫn đậm đà tình làng nghĩa xóm. Nhưng là nơi đất mới, sống phóng khoáng, ít chịu ràng buộc, có thể đây cũng là một trong những yếu tố, "tụ" và rã", "rã" và "tụ" của quá trình tụ cư, buôn bán trở nên quan trọng. Như ta thường thấy ở đồng bằng sông Cửu Long vốn chằng chịt sông ngòi kênh rạch, nhất là thời Cận đại, chỗ nào có cầu là có chợ, tụ họp buôn bán, có thể hình thành thị tứ sầm uất, như là một quy luật quần cư của vùng. Có thể xuất phát từ quan điểm "phi thương bất phú", nghĩa là không làm kinh doanh, buôn bán, không thể phất lên, không thể giàu sang, mãi mãi nghèo hèn. Trước đây các phú thương, những người mua đi bán lại đã trở thành những người giàu có với nhiều của cải, đất đai gọi là thương gia.

Ở thời phong kiến, trên là vua quan, xã hội hình thành "tứ dân", bốn thành phần trong xã hội. Cụ Bảng nhãn Lê Quý Đôn, một bác học cuối triều Lê tổng kết. Thực ra cụ ấy nói đầy đủ là: “Phi sĩ bất hưng, phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt”, như là một phương châm phát triển đất nước. Bốn thành phần ông nói đó là: sĩ, nông, công, thương. Sĩ là tầng lớp trí thức được trọng vọng nhất, những người hiểu biết về chữ nghĩa như thầy đồ, thầy thuốc, quan lại, thầy tướng số. Nông là những người trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá, đốn củi. Công là chỉ những người làm thủ công nghiệp, làm thuê trong các làng nghề truyền thống như dệt, chạm bạc, khâu nón, làm tranh, mộc, rèn…Thương là thương nhân buôn bán, phân phối của cải trong xã hội.

Những giá trị quý báu của văn hóa làng xã như như tinh thần tương thân, tương ái, đùm bọc “tắt lửa tối đèn có nhau” có thể rồi sẽ trở nên lợt lạt. Nhà phố thị thành, nhiều khi sát vách nhau cũng chẳng buồn chào hỏi, "đèn nhà ai nấy sáng". Thực tế ngày nay, thứ tự "tứ dân" hình như bị đổi ngược lại: "thương, công, nông, sĩ". Người trí thức muốn phát triển phải gia nhập vào đội ngũ viên chức, làm công bộc với đồng lương "ngáp ngáp". Nông dân thì vẫn vất vả, thiếu thốn, thu hoạch thì bị con buôn thu mua ép giá. Công nhân thì tăng ca làm giàu cho chủ. Thương nhân nhiều tiền thì được sum suê, trọng vọng. 

Về đường sá ở Việt Nam, tôi nghe nói chi phí làm đường cao hơn 1,5 - 2 lần so với các nước xung quanh như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, thậm chí cao hơn cả Mỹ. Ví dụ như riêng về đường cao tốc, đường Sài Gòn - Trung Lương chi phí 9,9 triệu USD/km. Đường Sài Gòn - Long Thành - Dầu Giây chi phí 18,3 triệu USD/km. Đường Bến Lức - Long Thành chi phí dự kiến lên tới 28,2 triệu USD/km. Trong khi tại Mỹ chỉ khoảng 8 triệu USD/km. Lẽ ra nhân công rẻ, mọi thứ ở Việt Nam cũng rẻ hơn thì chi phí làm đường phải thấp hơn các nước, nhưng thực tế thì lại cao hơn. Có người cho là do tiền bù đất cho dân. Đúng là giải phóng mặt bằng và nền đất yếu chiếm một phần lớn trong chi phí xây dựng, khiến đội cao chi phí. Nhưng nếu tách hai loại chi phí này, vẫn cao hơn thế giới. Có rất nhiều nguyên nhân chính dẫn đến chi phí làm đường cao. Thứ nhất là do sử dụng kỹ thuật lãng phí. Ở nước ngoài, cần làm bao nhiêu thì họ thuê hoặc mua bấy nhiêu, làm xong thì bán để thu hồi một phần vốn. Còn ở Việt Nam "chơi sang", máy móc làm xong bỏ, thanh lý. Thứ hai thuộc năng lực quản lý. Dự án thường trễ tiến độ dẫn tới tăng chi phí bởi trượt giá, trả lãi vay, trả lương nhân công. Việc trễ tiến độ thường làm tăng tới 50% chi phí xây dựng. Nguyên nhân cuối cùng là do tiêu cực từ những phần trăm hoa hồng, một hình thức hối lộ hợp pháp.

Ở giai đoạn 2010 - 2020, Việt Nam hoàn thành và đưa vào khai thác khoảng 1.757km đường cao tốc và có 6.000km đường quốc lộ. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội hiện tại, những người lãnh đạo ở Việt Nam nhận định: “Kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển”, xác định cần: “phát triển nhanh kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông”. Mục tiêu là phải đưa đất nước có nền kinh tế phát triển, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và từ giai đoạn 2021 - 2030 đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông tiếp tục là một trong những đột phá chiến lược. 

Với bất cứ quốc gia nào cũng vậy, hệ thống giao thông nói chung cũng có vai trò kết nối sản xuất với tiêu thụ, giữa vùng này với vùng khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác và đáp ứng nhu cầu đi lại của con người, đảm bảo được mối liên hệ kinh tế, phục vụ sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các vùng, các quốc gia, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của vùng, của địa phương.

Ở Mỹ, hệ thống đường cao tốc, freeway thường ở xa khu dân cư, hai bên đường nhiều chỗ được bao che kiên cố, nghiêm ngặt cấm người đi bộ ra, từ freeway khi vào khu dân cư thì có các làn đường exit xẻ vào và ra thuận lợi, nhanh chóng. Sát đường lớn, highway trong nội đô, người dân ít thích làm nhà ở, bởi xe de vào, ra hơi bất tiện khi đường đang có nhiều xe lưu thông, lại ồn ào. Chỉ có cơ sở kinh doanh, buôn bán, họ có bãi xe, parking lot riêng, lối vào lối ra cho khách. Cơ sở buôn bán, dịch vụ ven đường phải có giấy phép, licence hoạt động, mà giấy phép thì gắn với học nghề, đào tạo, có chuyên môn. Ngay cả cơ sở buôn bán, dịch vụ hoạt động phải được thiết kế theo quy định đặc trưng ngành nghề. Chứ không thể cứ lấy nhà ở sử dụng, buôn bán ven đường như ở Việt Nam. Nhà ở thì nói chung, tất cả đều nằm ở sát mặt đường, đường nhỏ hơn. Hầu như không có hẻm. Nhà ở xa, nơi heo hút, núi cao thì càng mắc, bạc triệu. 

Ở Việt Nam, nhiều tuyến đường, tỉnh lộ, quốc lộ, có đoạn ở cả đường cao tốc, dù phương tiện có trọng tải lớn như xe tải, container, xe khách chạy rầm rập, nhưng nhiều người vẫn thản nhiên họp chợ, thậm chí mua bán bát nháo dưới lòng đường. Nhiều chợ tự phát tồn tại, phát triển như ở Quốc lộ 1, Quốc lộ 50, Quốc lộ 22. Còn các con đường liên tỉnh, liên huyện nội địa thì tình trạng chợ cóc, chợ tạm dày đặc, là nơi mua bán nhộn nhịp, dù rất nguy hiểm. Thực trạng này chủ yếu do nhu cầu mua sắm của người dân theo thói quen, muốn tiện lợi, mua nhanh đỡ gửi xe, hoặc hàng hóa rẻ, phù hợp. Người bán đa số là người có thu nhập thấp, bán ven đường để đỡ tiền mặt bằng, thuế, vì mưu sinh nên bất chấp. 

Ven trục lộ giao thông vừa xây dựng, thường nhiều nhà mới được cất. Hàng quán, các dịch vụ phục vụ nhanh chóng mọc lên, dân cư tụ đến, mặc dù không phải tất cả các đoạn đường mới đều có thể kinh doanh, ai buôn bán cũng đều có thể giàu. Một thực tế là nhà mặt phố được hiểu đơn giản là những căn nhà nằm ở ngay mặt đường lớn chỉ ở những nơi có mật độ dân cư đông thì chủ nhà mới có cơ hội kinh doanh thành công hoặc bất động sản có giá trị. 

Nhưng từ quan niệm "phi thương bất phú", một phần bởi cuộc đời nông dân quá lam lũ, không được cải thiện. Sự phát triển của kinh tế thị trường nhiều mặt đã tác động đến nông dân, nông thôn rất khốc liệt. Những chuyển đổi đất nông nghiệp sang công nghiệp đã làm biến dạng không ít làng xã cổ truyền, nhiều người hoàn toàn không có tư liệu sản xuất hoặc không có tay nghề, khiến họ càng chuộng đô thị, tự phá hủy chính môi trường sống của mình để kiếm ăn. Nhiều nông dân tụ cư ven đường, lao vào cuộc sống hối hả, rồi thành thị dân, âu cũng là quy luật. Từ đó cơ chế làng khép kín của Việt Nam bị phá vỡ. Kéo theo văn hóa, tập quán tốt đẹp lâu đời của người Việt bị mất đi, dẫn đến hệ quả là sự suy thoái đạo đức, văn hóa nông thôn ngày càng trầm trọng, là điều khó tránh được. 

Và tôi vẫn nói, "nơi đáng sống" "có thể là nơi người ta cảm thấy vui, chính là nơi thuộc về mình, nơi quen thuộc nhất … Quen thì vui, đáng sống."

(Nguyễn Đông A)