Showing posts with label Cuộc sống quanh ta. Show all posts
Showing posts with label Cuộc sống quanh ta. Show all posts

Friday, June 19, 2026

Người Việt và lối tư duy theo mặt bằng

Bạn vừa cất một căn nhà. Nếu bạn thổ lộ với người Mỹ, người Mỹ sẽ hỏi bạn đã xoay sở với chi phí, các khoản vay, thậm chí tiền bảo hiểm của ngôi nhà ra sao. Trong khi đó, một người Nhật sẽ quan tâm liệu ngôi nhà có ở trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai hay không, kết cấu rung lắc đến đâu. Người Ý sẽ tò mò về việc bạn chọn nội thất trang hoàng theo phong cách nào, trong nhà có bao nhiêu món đồ cổ. Người Ba Tư sẽ gợi ý nền nhà được trải bằng loại thảm gì, màn cửa sổ nên treo chọn màu và hoạ tiết gì. Người Pháp sẽ muốn biết kiến trúc sư thiết kế xuất thân từ đâu, anh ta thích loại rượu vang nào. Trong khi đó, người Trung Quốc thì sẽ dò hỏi xem hàng xóm của bạn có phải là người Hoa hay không và khoảng cách từ Chinatown đến nhà bạn bao xa…


image

Người Việt Nam tư duy ngôi nhà theo mét vuông, tức, mặt bằng sử dụng. Điều này không phải nguyên do từ sự yếu kém về bộ môn hình học không gian. Tư duy được hình thành từ quá trình văn hoá, văn minh, lịch sử. Lịch sử Việt Nam là lịch sử của chiến tranh. Ngàn năm binh lửa ngoại xâm, nội chiến đã cho người Việt sự nhận thức cao về lãnh thổ, đất đai, là thứ không thể nhượng bộ cho giặc – “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “một tấc không đi một ly không rời”. Trong nền văn minh nông nghiệp, đất đai cũng là tư liệu sản xuất, đảm bảo đời sống, đem lại sự ấm no đủ đầy, cho nên, tấc đất tấc vàng.Rất dễ cho bạn nếu người đối diện là dân Việt Nam. Vì bạn chỉ cần nhớ chính xác diện tích sử dụng của căn nhà là đủ.

Có lẽ tư duy theo mét vuông tiếp tục là nếp nghĩ trong thời hiện đại. Đặc biệt trong quá trình đô thị hoá, bất động sản trở thành một thị trường đầy sôi động càng khiến người ta quá bận tâm xử lý mặt bằng nhưng lại thiếu những chăm chút cho giá trị tinh thần. Nói như TS.KTS Ngô Viết Nam Sơn, là đặt sai hệ quy chiếu lợi ích: “Lợi ích địa ốc cao nhất không phải lúc nào cũng chỉ đạt được nhờ vào tư duy mét vuông (thiên về số lượng mét vuông) như người ta thường lầm tưởng, mà còn có thể nhờ vào tư duy giá trị sống (thiên về “chất lượng” mét vuông).

Với tư duy mét vuông, nhà đầu tư thường hy sinh bớt các chỉ tiêu về chất lượng sống, như thu hẹp diện tích cây xanh, xây dựng quá dày đặc làm giảm sự riêng tư vì căn hộ thường bị các căn hộ khác nhìn thẳng vào và giảm sự yên tĩnh do tác nhân ồn và sự chung đụng với các hộ lân cận gia tăng. Người ta thường không thấy rằng công trình thấp tầng và mật độ xây dựng thấp mới là cao cấp nhất, chứ không phải công trình cao tầng”. Từ đây, có thể thấy được nguyên nhân sâu xa của việc đánh mất bản sắc đô thị đang diễn ra tại Hà Nội, TP.HCM.

image

Nhà ống phố cổ liệu có phải là kết quả của lối tư duy theo mặt bằng ?

Tư duy mét vuông cũng tạo ra những “biến chứng” khó chịu trong lối ứng xử với không gian sống của người dân, nó ít nhiều khống chế đời sống văn minh ở. Ý thức công năng sử dụng (chứ không phải sở hữu) đã làm suy giảm sự gắn bó cội rễ giữa con người với không gian sống nói riêng và hồn vía đất đai nói chung. Mặt khác, sự cắt rời không gian sử dụng ngôi nhà với không gian công cộng đã làm nảy sinh tâm lý thực dụng trong ứng xử văn hoá công cộng. Người Việt xem không gian công cộng là thứ “cha chung không ai khóc” nên khi cần thì lấn chiếm, lúc không cần thì tha hồ gây ô nhiễm bằng các hình thức khác nhau.

Một trong những điều nữa thể hiện tư duy mặt bằng đó chính là sự thiếu quan tâm đến những thiết kế đa dạng về không gian sống trong chính ngôi nhà mà chỉ quan tâm đến độ rộng, hẹp. Để là gì? Tôi tình cờ tìm thấy phần gợi ý cho câu trả lời trên ở phần Góp ý cho cuốn Văn minh vật chất của người Việt (Phan Cẩm Thượng, NXB Tri thức 2011), hoạ sĩ Phan Bảo, một trong những nhà nghiên cứu am hiểu về đời sống vật chất của người Việt ở đồng bằng sông Mã, vùng đất có nhiều di chỉ văn hoá cội nguồn người Việt cổ: “Ở xứ Việt ta, nhà cửa chỉ có một công năng: là nơi trú ngụ nói chung. Nhà ở có thể làm đình chùa, đền tạ và đình chùa đền tạ cũng có thể làm nhà ở về mặt kiến trúc (trừ hai món nhập khẩu là tháp và nhà thờ Thiên Chúa giáo). Hàng nghìn năm đi học đi thi mà cái nhà trường cũng chỉ là cái nhà ở ngã cửa ván ra hoặc trải chiếu nằm xuống mà viết. Có lẽ chỉ có kẻ sĩ Việt Nam là nằm bò toài ra mà viết, mà học, xong rồi có thể lăn quay ra ngủ luôn (xem Lều chõng của Ngô Tất Tố). Nhà Nho ta ư? Ăn cơm, viết sách, nghe hát và ngủ với cô đầu chỉ loanh quanh trên một chiếc chiếu. Vậy ở đâu trải chiếu thì ở đấy có đủ mọi chuyện. Vào chùa lấy chiếu chùa ra ta ngồi. Vậy cái nhà Việt Nam thật tối giản: trên có mái, dưới có nền (trong Nam bộ lại còn không có cả nền cao, nền nhà, nền sân, nền đường, nền vườn bằng nhau), chung quanh để trống, chỉ có mùa rét mới lấy liếp che lại, ở giữa trải chiếu, thế là xong. Nhà to hơn tức là nhà dài hơn vì chắp thêm gian (quy chế chính: 1 gian, 2 gian, 3 gian,… 11 gian, 13 gian là cung vua phủ chúa rồi). Tại sao ông tiến sĩ lại ngồi ghế chéo (Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ – thơ Nguyễn Khuyến)? Bởi vì ghế ấy cũng chỉ là tạ thôi, ông tiến sĩ về nhà với cha mẹ thì ngồi chiếu trải lên đất, lên công đường thì ngồi chiếu trải lên sạp, vua cũng thế thôi (vua Lê Cảnh Hưng bảo Nguyễn Huệ ngồi ghé lên sạp với mình – xem Hoàng Lê nhất thống chí). Vì thế, xem kiến trúc Việt Nam có gì mới lạ không thì xem chạm chắc ở mấy chỗ kẻ bẩy, tức bàn tay có nóc mái vậy. Có điều, ngói của đền miếu rất to nặng, đó là do ý muốn chống gió bão lật mái đấy. Nhà trống tha hồ cho gió lùa. Cơn bão năm 1905 ở Huế lật cả cầu Tràng Tiền mới làm xuống sông mà Ngọ Môn vẫn y nguyên chẳng sao cả.

Theo tôi, nghệ thuật kiến trúc không phải là nghệ thuật chạm khắc hay sơn vẽ. Và ta nên tách các món này ra.

Nhà sàn chẳng qua chỉ là một ngôi nhà có cái đặc biệt hơn mà thôi, Nó cũng là nhà tầng. Nhà cửa Việt Nam chuộng bóng tối là vì người ta chẳng cần ánh sáng nhiều làm gì. Phải chăng cần nhìn rõ các tượng Phật Thánh? Muốn đọc sách thì ra ngoài hiên rồi. Ngày nay có nhiều nhà hiện đại cao to (nhà dân dụng) nhưng cũng chẳng để làm gì ngoài chuyện đi ngủ, vậy nhà cửa đóng im ỉm suốt ngày có khách thì mời đi quán. Các ông hoạ sĩ mới đòi nhà sáng sủa thôi. Nhà dân nông thôn Việt Nam ta rất cần cái sân trước cửa, không phải chỉ để phơi phóng các thứ mà tiện dụng hàng ngày. Uống rượu buổi chiều ư? Trải chiếu ngoài sân. Nhà có đám ư? Dựng rạp ngoài sân. Do đó, sân này phải khô cứng và trống thoáng. Điều đó dẫn đến kết cấu nhà có hiên bè rất rộng, mỗi kẻ bẩy ra một khoảng kẻ nữa tức hè tính từ cột con ra rộng hơn 2m.

Công năng sử dụng nhà đơn giản, cho nên kiến trúc tối giản và đơn điệu. Trong kho tàng thành ngữ để chỉ người giàu kẻ nghèo trong xã hội đã có thấp thoáng cái tư duy về kiến trúc: gia cảnh nghèo thì gọi là “nhà ổ chuột”, “nhà rách vách nát”, “nhà xiêu vách đổ”, “nhà dột cột xiêu”, “nhà tranh đố sậy”, còn để chỉ những kẻ giàu có trong xã hội, thì: “kín cổng cao tường”, “nhà cao cửa rộng”, “nhà vàng gác tía”… Và vẫn với tư duy trọng về chất liệu và mặt bằng đó, người Việt mở rộng cách nói về những không gian sống rộng hơn ngôi nhà như sau: thường dùng thành ngữ “màn trời chiếu đất” để chỉ cảnh tiêu điều khốn khổ sau những trận thiên tai, địch hoạ, hay “nhà ngang dãy dọc” để chỉ sự giàu có của một cơ nghiệp hoặc sự khá giả sầm uất của một khu dân cư.

Còn đây, năm 1931, ông Phan Khôi phê phán về cái văn minh “kinh hoạch” phố phường trên báo Đông Tây (số 114): “Nhà cửa phố xá, cái thì lồi ra, cái thì lõm vào, chủ nó mỗi người cất theo mỗi ý riêng mình, không buộc phải đúng quy củ nào hết”.

Trong quá khứ của người Việt, mọi sự phấn đấu trong đời sống kinh tế dường như chỉ tập trung để đạt tới một mục tiêu – được sử dụng một ngôi nhà to, bề thế hơn là những giá trị sống thuộc về môi trường, văn hoá liên quan. Bàn tay của kiến trúc sư có lẽ chỉ có giá trị trong vài năm gần đây, khi đất chật người đông, làn sóng nhập cư vào đô thị ồ ạt, quá trình đô thị hoá nhanh chóng làm cho cơ hội ở rộng với nhiều người không còn, thay vào đó là những xoay sở giải pháp ở gọn. Mặt khác, truyền thông đã giúp người dân mở mang cái nhìn, tiếp thu văn hoá hưởng thụ, trình độ và nhận thức về chất lượng sống đã có những thay đổi lớn. Người ta nhận ra ngôi nhà không phải chỉ để đơn giản là trú mưa trú nắng hay… ngủ, mà còn để góp phần làm đẹp mỹ quan chung, bản thân nó phải là một không gian khoa học, đáp ứng những nhu cầu công năng và thụ hưởng những giá trị tinh thần, văn minh.

Nhưng còn lâu mới xoá bỏ được sạch cái dấu ấn tư duy mặt bằng, khi mà hiện nay, do sự chắp vá, bất nhất và thiếu đồng bộ về quy hoạch. Cho đến nay, tiêu chí đánh giá của Nhà nước về việc nhận diện không gian ở của người dân vẫn theo tư duy mét vuông. Một báo cáo gần đây của cơ quan chức năng, tại Việt Nam, nơi đô thị vẫn còn tồn tại nhiều hộ gia đình nghèo xoay xở sống trong những “ngôi nhà” chỉ 3m2, tiêu chuẩn còn thấp hơn ngưỡng chuẩn tối thiểu của điều kiện để xét, xếp vào diện vô gia cư trong thời bao cấp là < 5m2. Báo cáo trên cũng cho hay, trên lý thuyết thì từ năm 2.000 Nhà nước đã nâng chuẩn lên 6 – 8m2 thì được cấp nhà ở xã hội.

Theo tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam được tổng cục Thống kê công bố vào tháng 12.2009 thì trung bình diện tích nhà ở của mỗi người Việt Nam là 18,6m2. Cũng theo đợt điều tra này, thì tại Việt Nam cứ 2.000 hộ sẽ có một hộ không có nhà ở. Hộ không có nhà ở được định nghĩa là không có chỗ ở, hoặc không đáp ứng được 1 trong 3 điều kiện: có diện tích sàn tối thiểu 4m2; tường cao ít nhất 2m; có cấu trúc riêng biệt và độc lập. Trong các hộ có nhà ở, thì số hộ có nhà kiên cố chiếm 47%; nhà bán kiên cố chiếm 37,8%; nhà thiếu kiên cố chiếm 7,8%; và nhà đơn sơ chiếm 7,4%.

Mức độ tin cậy vào những con số thì còn tuỳ vào sự lạc quan hay bi quan của từng người tiếp nhận. Song cuộc điều tra trên cho thấy ngay cả trong tiêu chuẩn đánh giá nhà ở của một cơ quan chức năng, thì khái niệm chất lượng sống của một không gian ở mang lại cho con người chỉ có thể dừng lại ở mức độ “an toàn” (kiên cố) hay thiếu an toàn (không kiên cố, đơn sơ). Có thể tiêu chí trên phù hợp với một đất nước phát triển chậm, dân số tăng nhanh nên việc đảm bảo đời sống tối thiểu của người dân (chỗ ở) còn nhiều “tồn tại” nói chi đến chất lượng sống, sự hưởng thụ giá trị sống trong công trình nhà ở.

Tư duy mét vuông còn là một thứ hệ luỵ lịch sử. Điều đáng nói, là nó tác động không nhỏ đến tư duy quy hoạch đô thị. Sự hiện đại hoá bừa bãi, sự nao núng trong những chiến lược vươn cao vì mục tiêu công năng, mở rộng mặt bằng sử dụng theo cao độ đang giết chết những môi trường hài hoà và bản sắc đô thị và mỹ quan. Đa số các công trình kiến trúc gần đây lại lấy nguồn cảm hứng không từ xu hướng kiến trúc nhạy cảm với công nghệ mới, bền vững và quan tâm đến môi trường, lợi ích xã hội mà lại chọn lựa xu hướng lợi ích thương mại.

“Một cái lẩu kiến trúc” – KTS Olivier Souquet đã nói như thế về kiến trúc TP.HCM trên tạp chí Kiến trúc số 203, 3.2012. Ông viết: “Xu hướng thương mại: hoàn toàn tuỳ thuộc vào thị trường bất động sản vốn dĩ không ổn định, chỉ có thể làm ra những bản sao, nếu không theo mô típ “tân thuộc địa” thì là “tân phong cách Victoria”, pha một chút phong cách Á châu (mà cũng chưa chắc là đến từ châu Á). Tiêu biểu là những kiến trúc phong cách Singapore với các thứ cột Corinthe Hy Lạp, chẳng khác gì một cái lẩu kiến trúc và cũng chẳng nói lên được ý đồ là cái gì”.

Bao lâu thì người Việt sẽ quan tâm đến ngôi nhà của bạn theo hướng “ý đồ là cái gì”? Bao giờ thì người Việt hết tư duy không gian sống theo mặt bằng? Có lẽ sẽ không bao giờ. Vì người ta không chỉ có thể chắp vá và sửa chữa, không thể dọn sạch để làm lại. Quy hoạch kiến trúc rất khác với cách người ta thiết kế mỹ thuật cho một cái bánh kem.

Ngày nay, một đất nước thu nhập đầu người còn thuộc hạng thấp lại có những thành phố trung tâm được xếp vào hàng những đô thị đặc biệt có giá bất động sản cao bậc nhất trên thế giới là điều chưa hẳn là vui. Một thị dân thu nhập trung bình khó có thể nghĩ đến chuyện sở hữu một không gian sống tử tế trong thành phố mà họ gắn bó và cống hiến. Và đây là biểu hiện của một thứ “tư duy mặt bằng” mới: trong những câu chuyện, người ta vẫn dùng cụm từ “chỗ chui ra chui vào” để chỉ ngôi nhà.

Nguyễn Vĩnh Nguyên – Theo SGTT

Friday, May 22, 2026

Xin thưa: TÌNH YÊU thì nó "không an toàn"

 


1. Khi ta muốn thiết lập ranh giới cá nhân thì việc đầu tiên cần đặt xuống chính là "nhu cầu đòi hỏi sự tôn trọng".

Ủa chị ! Mình thiết lập ranh giới cá nhân thì họ phải tôn trọng mình chớ ?
Ủa em ! Ranh giới em lập ra là cho chính mình, sao phải chờ đợi sự tôn trọng, đứa nào đã quá giới hạn của em rồi, thì em đem tên lửa ra tiễn, tôn trọng hay không tôn trọng cũng tiễn, vì thế đừng quá quan trọng chuyện họ có tôn trọng mình không, mặt khác, đã tôn trọng em, thì họ đã biết nên đối xử với em thế nào, chứ đâu đợi chiếc tên lửa của em đến tiễn!
2. Em và anh ấy sử dụng trang cá nhân của nhau, biết tất cả các pass của nhau.
Điều đó là để đảm bảo cảm giác an toàn, có thể là nhu cầu thiết yếu về những người luôn có cảm giác thiếu an toàn với thế giới ngoài kia, vô tình hay cố ý họ lại về chung một nhà với nhau. Tuy nhiên, gì cũng có hai mặt, có thể hai bạn yêu nhau và tình nguyện trao cho nhau những điều rất riêng tư trong thế giới riêng của nhau và gọi tất cả đấy là "điểm chung", các bạn thỏa mãn cảm giác an toàn lẫn nhau khi có cùng sự tự nguyện trao cái riêng ra làm cái chung.
💕 Xin thưa: TÌNH YÊU thì nó "không an toàn".
(love never feel so good)
Theo cách mà các bạn nghĩ. Tất cả những gì thuộc về lẽ tự nhiên, nó bất ngờ không tính trước và luôn có biến số. Nay nắng, mai mưa, đó là chuyện thường tình. Như khi ta muốn giữ nắng, giữ mưa, ôi...nó bất khả thi.
Tình yêu thuộc về tự nhiên, hai con người đầy khuyết điểm chạm vào tình yêu đúng nghĩa và yêu nhau, họ tự nhiên tròn vẹn hơn mỗi ngày, từ sự tròn vẹn, họ không có nhu cầu đem cái riêng ra để gộp vào, họ "cùng nhau tạo ra" cái chung và giữ lại những cái riêng vốn dĩ đơn thuần, vì họ tin vào vẻ đẹp riêng của nhau, không có nhu cầu đồng hóa lẫn nhau.
Tình yêu thuần hóa hai bạn, hai bạn không đem những cái ranh giới ra để thuần hóa nhau.
3. Thiết lập "ranh giới cá nhân" có bị hiểu lầm là "chảnh" không chị ?
Hiểu đúng đó chứ không lầm nha. Kể cả khi em không thiết lập gì cả, người ta có hiểu là chảnh thì người ta vẫn đúng, đấy là vấn đề về "góc nhìn", góc nhìn của họ, em hiểu và tôn trọng, không phải phân minh, giải thích. Người ta không đối xử xứng đáng với em ! Đánh giá thấp em trong cuộc đời của họ, thì người ta chịu thiệt đấy chứ đâu phải em ! Bởi vì sẽ không bao giờ họ biết một cô gái biết chảnh dễ thương đến cỡ nào, eo ôi !!! Thiệt thòi vãi linh hồn í.
Đừng cứ nghĩ mình thiết lập ranh giới cá nhân là người ngoài không có quyền nghĩ theo cách của họ và đối xử với em theo cách của họ ! Việc của em là "say no, say bye". Cứ để việc của người ta lại cho họ, lời họ nói, có thể mình không thèm nghe, còn họ thì chắc chắn phải nhận vào, dọn dẹp thế nào, là chuyện của họ, em gảnh quá thì...đi gội đầu đi vậy, cho mát!
4. "Ranh giới cá nhân" có phải "yêu bản thân" không chị ?
Yêu bản thân là yêu bản thân, còn ranh giới cá nhân nó đứng riêng. Có thể bổ trợ cho nhau, nhưng không phải cái này là cái kia.
Có đầy người cũng yêu bản thân đấy, nhưng lại xâm phạm ranh giới của người khác, thì đó là vì họ chưa học bài học về ranh giới cá nhân, họ chỉ mới dừng lại ở yêu bản thân thôi.
#lekimanh #divinecouplelove

4 THỜI ĐIỂM BẠN NHÌN RÕ SỰ CHÂN THÀNH TỪ NHỮNG NGƯỜI XUNG QUANH DÀNH CHO MÌNH.



4 thời điểm vàng sẽ khiến bạn “giật mình” nhận ɾa những quy luật vốn hiện hữu của đời người mà đôi khi chúng ta lơ là quên mất.


1. Khi gặp hoạn nạn.


Người đời có câu: ” Cuộc đời là bọt nước. Chỉ có hai điều như đá tảng: tử tế khi người khác lâm nạn và can đảm tɾong hoạn nạn của chính mình”. Khi sóng yên biển lặng, xung quanh chúng ta có ɾất nhiều bạn bè người thân, tay bắt mặt mừng, vui cười thắm thiết, thế nhưng, khi gặp biến cố cuộc đời, liệu tɾong số bằng hữu ấy, bao nhiêu người có thể ở lại để đương đầu, nâng đỡ, dìu dắt ta qua sóng gió.

Chỉ có chính chúng ta, gia đình và những người bạn thân thật sự mới có thể vực ta dậy sau cơn hoạn nạn cuộc đời. Và cũng nhờ đó, ta mới nhìn thấu được lòng người ngay giả, ai quân tử, ai tiểu nhân, từ đó.


2. Khi lâm bệnh nặng.


Lúc còn tɾẻ, chúng ta có lợi thế về thời gian và sức khỏe, vì thế, đa phần không biết quý tɾọng, lao mình vào những cuộc vui thâu đêm suốt sáng, sử dụng chất kích thích, bạc đãi chính cơ thể của mình. Hoặc cũng có thể, vì ham kiếm tiềη, nên làm việc quá độ, khiến thể chất ngày càng suy nhược, đến khi lâm bệnh nặng, nằm tɾên giường bệnh, mới thấm thía sức khỏe quan tɾọng đến nhường nào.

Bạn không thể nào cảm thấy hạnh phúc với một cơ thể không khỏe mạnh. Dù tiền bạc, của cải, hay những thú vui kia có hấp dẫn thú vị như thế nào thì cũng chỉ toàn là vô nghĩa.

Vì thế, khi bệnh nặng, chính là lúc cuộc đời dạy bạn cách tɾân tɾọng sức khỏe – món quà vô giá của chính bản thân mình.


3. Khi về hưu


Khi ta ở đỉnh cao danh vọng, chức tɾọng quyềп cao thì luôn được săn đón bởi biết bao nhiêu người. Nhưng một khi quyềп lực đã không còn tɾong tay thì cục diện hoàn toàn thay đổi. Những kẻ xu nịnh tɾước kia, nay nhìn thấy ta cũng coi như không quen biết. Những người tưởng chừng như anh em thân thiết bỗng cũng hóa xa lạ, lạnh lùng.


Nhiều người sau khi về hưu mới có thời gian ngồi ngẫm nghĩ lại cuộc đời mình. Tham gia ᴄôпg tác nhiều năm, vì ham chức ham quyềп mà cấp tɾên chèn ép cấp dưới, vì muốn thăng quan tiến chức mà đồng nghiệp đấυ đá lẫn nhau.

Thế nhưng, những thứ đạt được cũng chỉ là vật ngoài thân, người mất đi ɾồi cũng chẳng mang theo được. Dù là lãnh đạo hay nhân viên, cấp tɾên hay cấp dưới, đến cuối cùng chẳng phải cũng đều về hưu sao?

Sớm biết chẳng có gì khác nhau thì tɾước đây hà tất phải tɾanh đấυ?

Hãy làm tốt việc của mình, đối xử chân thành với người khác, đó mới là việc nên làm. Hãy học cách sống khiêm nhường để không bị sự tự cao che mờ mắt, khiến ta tɾở nên ích kỷ và thiển cận.


4. Khi tɾút hơi thở cuối cùng.


Tɾớ tɾêu thay, lâm chung là lúc con người tɾở nên thông suốt nhất. Cuộc đời này quá ngắn mà cũng quá dài. Mọi ân oán tình thù đều chỉ như mây khói, ta hà tất phải cố chấp với chúng mà không học cách buông bỏ? Khi đã hiểu được đạo lý ấy cũng là lúc con người có thể nhắm mắt xuôi tay, ɾa đi thanh thản.

St 

Và tôi vẫn nói, "nơi đáng sống" "có thể là nơi người ta cảm thấy vui, là nơi thuộc về mình




Trong một bài viết có tiêu đề là "Di cư", tôi từng viết: "... người ta chuyển nơi ở dù gần hay xa trước hết là tìm cho mình hay gia đình một tương lai phát triển. Đạt được rồi, có người không hài lòng, so sánh, rồi muốn hơn nữa, Đó là sự khác biệt giữa tĩnh và động, ngưng và chuyển, mưu cầu hạnh phúc. Từ xưa  còn người di từ núi xuống đồng bằng, di dần về phương Nam. Thời hiện đại di từ tỉnh lên thành, di từ trong ra ngoài nước. Không cứ người Việt, làn sóng di dân đến nước phát triển, ai cũng muốn tìm hai chữ "an lạc"".

Ở một bài khác tôi lại viết:" Chợt nhớ người ta thường nói: “thành phố đáng sống nhất”, “nơi đáng sống nhất”... làm gì có, viễn vông. Chẳng đâu là thiên đường ở cõi này, dù được sống tiện nghi, vật chất thừa thãi. Mà để có phải cố làm việc, không thể đi ăn cắp, ăn trộm. Có thể nơi người ta cảm thấy vui, chính là nơi thuộc về mình, nơi quen thuộc nhất … Quen thì vui, đáng sống.". Đó là thiển ý của tôi về nơi mình sống.

Một người bạn hỏi tôi: "Từ bao giờ người ta bỏ làng mạc, bám theo các trục đường giao thông để sống, buôn bán…". Đây là một vấn đề lớn, hiện đại, chịu tác động bởi quan điểm, chính sách của nhà nước và suy nghĩ của người dân.

Làng vốn ban đầu là những công xã nông thôn - địa điểm tụ cư của những người dân gắn bó với nhau trên quan hệ địa vực là chủ yếu. Từ quan hệ láng giềng “bán bà con xa, mua láng giềng gần” nên người Việt với người Việt yêu thương nhau, gắn bó với xóm làng. Giá trị đó khiến làng xã xưa bình yên.

Lúc đầu, làng Việt Nam là những công xã nông thôn, là những kẻ, chiềng, chạ. Đứng đầu là các bô lão nhiều tuổi, có uy tín.. Họ "quyết định mọi công việc lớn nhỏ, quyết định việc dời làng,việc chiến hay hòa, giải quyết những việc giao dịch hay tranh chấp, phân xử những vụ vi phạm luật tục, định mức phạt vạ”. Trên cơ sở thống nhất các bộ lạc, liên minh bộ lạc, tộc Lạc Việt và tộc Âu Việt, nhà nước Văn Lang - Âu Lạc ra đời. Để quản lý bên dưới, vua dựa vào các Hội đồng bô lão do Bồ chính đứng đầu do dân làng bầu. Nhà nước ít can thiệp vào. Càng về sau, suốt thời Trung đại, Cận đại, tình nghĩa xóm làng được đẩy lên cao, thành tình yêu đất nước. Cặp đôi khái niệm làng - nước luôn thường trực trong tư duy và đời sống của người Việt. Tính cộng đồng của làng xã đã chuyển thành ý thức cộng đồng của quốc gia:

 “Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng".

Tính cộng đồng làng xã là cơ sở tạo nên tính đồng nhất trong hàng loạt khía cạnh như đồng tộc, đồng niên, đồng hương, đồng nghiệp và tất yếu dẫn đến sự đồng nhất trong phạm vi quốc gia. Đồng bào cùng sinh ra từ một bọc trứng, từ đó giúp cho người Việt gắn bó, yêu thương, coi như ruột thịt.

Nếu như quan hệ giữa các thành viên trong làng mang tính cộng đồng thì trong quan hệ với các cộng đồng bên ngoài và với chính quyền cấp trên làng lại mang tính chất tự trị, tự quản cao. Tính tự trị là một đặc điểm lớn của làng xã Việt Nam truyền thống, đó là “tự điều chỉnh - tự điều khiển của làng xã trong quá trình vận động của kinh tế xã hội. Tự điều chỉnh, tự điều khiển là ít chịu sự can thiệp trực tiếp của các cấp chính quyền bên trên, là sự vận hành đa tuyến của xã hội dân sự”. Nhà nước chỉ can thiệp vào làng xã trong việc thu thuế, bắt lính, xử lý những vụ án hình sự, hay những vụ tranh chấp dân sự làng không hòa giải được, can thiệp khi có dịch bệnh lớn, còn lại thuộc quyền tự trị, tự quản của các làng xã. Do tính chất tự trị, tự quản cao nên người ta đánh giá làng xã cổ truyền “như một nước cộng hòa thu nhỏ”, với những thiết chế  chặt chẽ, những quy định bảo đảm “dân chủ làng xã” và cố kết cộng đồng rất cao. Làng là một đơn vị tụ cư truyền thống của người nông dân Việt ở nông thôn, có địa vực, cơ sở hạ tầng, cơ cấu tổ chức, phong tục, tập quán, tâm lý, quan niệm, tính cách và cả “hương âm”, "thổ ngữ" tức "giọng làng" riêng, hoàn chỉnh và tương đối ổn định. Đặc biệt, để duy trì trật tự, nền nếp, mỗi làng đều có hương ước, được coi như bộ luật của làng. Cơ cấu tổ chức làng xã xưa đơn giản nhưng chặt chẽ, hệ thống tổ chức gồm Hội đồng hương chính và Lý trưởng do dân làng tự bầu, Nhà nước phê chuẩn, nếu vị chức sắc nào thực hiện trách nhiệm kém cỏi hay có sai phạm, dân làng sẽ bầu người khác thay thế. Làng có đội ngũ tuần phiên, có trách nhiệm bảo vệ an ninh, trật tự trong làng và ngoài đồng. 

Một thực tế từng tồn tại ở làng xã “là đơn vị sở hữu và điều tiết, phân phối nguồn tài sản lớn nhất của cộng đồng là ruộng đất công trên cơ sở phép nước lệ làng, còn nhà nước chỉ nắm ruộng đất xã thôn trên danh nghĩa với mục đích chính là thu thuế”. Dù trên nguyên tắc nhà nước thực hiện chế độ chuyên chế trung ương tập quyền. Nhưng khi các làng khai báo ruộng đất công lên cho nhà nước làm sổ điền bạ đã giữ lại một bộ phận để làm ruộng hậu thực hiện các công việc chung của làng xã hay là những ruộng đất khai hoang thêm của dân trong làng sau đó cũng nằm ngoài sổ quản lý của nhà nước. Đó là ruộng cho giáp, cho chùa, cho đình, cho hội Tư văn, cho các chức dịch từ xã trưởng đến mõ, mà nhà nước trung ương không thể kiểm soát nổi”. Tình hình này phổ biến nhiều hơn ở các tỉnh ở Đàng trong khi diện tích chưa khai khẩn còn một lượng lớn. Như thế làng vẫn có sức mạnh riêng, phần nào mang tính tự trị quản lý về tư liệu sản xuất, "phép vua thua lệ làng".

Nhìn chung làng trước đây dân trí thấp, phần lớn không biết chữ nhưng “nếp sống văn hóa lại khá cao”, những người có chữ nghĩa trong làng rất được tin cậy và tôn trọng. Người có chữ nghĩa tham gia Hội đồng, được bầu làm chức dịch. Do vậy mà người dân rất trọng học, mong con cháu được học hành, đỗ đạt thành tài. Làng nước trọng văn, trọng đức nên trong xã hội coi trọng "kẻ sĩ", được xếp đầu các nghề trong xã hội: sĩ, nông, công, thương. Biểu tượng truyền thống của tính tự trị là lũy tre. Rặng tre bao bọc quanh làng trở thành một thứ thành lũy kiên cố, bất khả xâm phạm. 

Ở miền Nam, tôi cho rằng làng xã hơi khác miền Bắc. Dân làng ở rải rác trên địa phận làng, không hợp nhau thành xóm, chung quanh làng không có lũy tre xanh, ở miền Tây có thể phân chia ranh giới qua kênh rạch, con sông. Làng ở miền Nam thường rộng lớn hơn, chia làm nhiều ấp. "Đất lề quê thói", sự khác biệt là tất nhiên để phù hợp với hoàn cảnh địa lý, với khí hậu và với dân tình. Tuy nhiên dân quê hiền lành chân chất vẫn đậm đà tình làng nghĩa xóm. Nhưng là nơi đất mới, sống phóng khoáng, ít chịu ràng buộc, có thể đây cũng là một trong những yếu tố, "tụ" và rã", "rã" và "tụ" của quá trình tụ cư, buôn bán trở nên quan trọng. Như ta thường thấy ở đồng bằng sông Cửu Long vốn chằng chịt sông ngòi kênh rạch, nhất là thời Cận đại, chỗ nào có cầu là có chợ, tụ họp buôn bán, có thể hình thành thị tứ sầm uất, như là một quy luật quần cư của vùng. Có thể xuất phát từ quan điểm "phi thương bất phú", nghĩa là không làm kinh doanh, buôn bán, không thể phất lên, không thể giàu sang, mãi mãi nghèo hèn. Trước đây các phú thương, những người mua đi bán lại đã trở thành những người giàu có với nhiều của cải, đất đai gọi là thương gia.

Ở thời phong kiến, trên là vua quan, xã hội hình thành "tứ dân", bốn thành phần trong xã hội. Cụ Bảng nhãn Lê Quý Đôn, một bác học cuối triều Lê tổng kết. Thực ra cụ ấy nói đầy đủ là: “Phi sĩ bất hưng, phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt”, như là một phương châm phát triển đất nước. Bốn thành phần ông nói đó là: sĩ, nông, công, thương. Sĩ là tầng lớp trí thức được trọng vọng nhất, những người hiểu biết về chữ nghĩa như thầy đồ, thầy thuốc, quan lại, thầy tướng số. Nông là những người trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá, đốn củi. Công là chỉ những người làm thủ công nghiệp, làm thuê trong các làng nghề truyền thống như dệt, chạm bạc, khâu nón, làm tranh, mộc, rèn…Thương là thương nhân buôn bán, phân phối của cải trong xã hội.

Những giá trị quý báu của văn hóa làng xã như như tinh thần tương thân, tương ái, đùm bọc “tắt lửa tối đèn có nhau” có thể rồi sẽ trở nên lợt lạt. Nhà phố thị thành, nhiều khi sát vách nhau cũng chẳng buồn chào hỏi, "đèn nhà ai nấy sáng". Thực tế ngày nay, thứ tự "tứ dân" hình như bị đổi ngược lại: "thương, công, nông, sĩ". Người trí thức muốn phát triển phải gia nhập vào đội ngũ viên chức, làm công bộc với đồng lương "ngáp ngáp". Nông dân thì vẫn vất vả, thiếu thốn, thu hoạch thì bị con buôn thu mua ép giá. Công nhân thì tăng ca làm giàu cho chủ. Thương nhân nhiều tiền thì được sum suê, trọng vọng. 

Về đường sá ở Việt Nam, tôi nghe nói chi phí làm đường cao hơn 1,5 - 2 lần so với các nước xung quanh như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, thậm chí cao hơn cả Mỹ. Ví dụ như riêng về đường cao tốc, đường Sài Gòn - Trung Lương chi phí 9,9 triệu USD/km. Đường Sài Gòn - Long Thành - Dầu Giây chi phí 18,3 triệu USD/km. Đường Bến Lức - Long Thành chi phí dự kiến lên tới 28,2 triệu USD/km. Trong khi tại Mỹ chỉ khoảng 8 triệu USD/km. Lẽ ra nhân công rẻ, mọi thứ ở Việt Nam cũng rẻ hơn thì chi phí làm đường phải thấp hơn các nước, nhưng thực tế thì lại cao hơn. Có người cho là do tiền bù đất cho dân. Đúng là giải phóng mặt bằng và nền đất yếu chiếm một phần lớn trong chi phí xây dựng, khiến đội cao chi phí. Nhưng nếu tách hai loại chi phí này, vẫn cao hơn thế giới. Có rất nhiều nguyên nhân chính dẫn đến chi phí làm đường cao. Thứ nhất là do sử dụng kỹ thuật lãng phí. Ở nước ngoài, cần làm bao nhiêu thì họ thuê hoặc mua bấy nhiêu, làm xong thì bán để thu hồi một phần vốn. Còn ở Việt Nam "chơi sang", máy móc làm xong bỏ, thanh lý. Thứ hai thuộc năng lực quản lý. Dự án thường trễ tiến độ dẫn tới tăng chi phí bởi trượt giá, trả lãi vay, trả lương nhân công. Việc trễ tiến độ thường làm tăng tới 50% chi phí xây dựng. Nguyên nhân cuối cùng là do tiêu cực từ những phần trăm hoa hồng, một hình thức hối lộ hợp pháp.

Ở giai đoạn 2010 - 2020, Việt Nam hoàn thành và đưa vào khai thác khoảng 1.757km đường cao tốc và có 6.000km đường quốc lộ. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội hiện tại, những người lãnh đạo ở Việt Nam nhận định: “Kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển”, xác định cần: “phát triển nhanh kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông”. Mục tiêu là phải đưa đất nước có nền kinh tế phát triển, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và từ giai đoạn 2021 - 2030 đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông tiếp tục là một trong những đột phá chiến lược. 

Với bất cứ quốc gia nào cũng vậy, hệ thống giao thông nói chung cũng có vai trò kết nối sản xuất với tiêu thụ, giữa vùng này với vùng khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác và đáp ứng nhu cầu đi lại của con người, đảm bảo được mối liên hệ kinh tế, phục vụ sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các vùng, các quốc gia, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của vùng, của địa phương.

Ở Mỹ, hệ thống đường cao tốc, freeway thường ở xa khu dân cư, hai bên đường nhiều chỗ được bao che kiên cố, nghiêm ngặt cấm người đi bộ ra, từ freeway khi vào khu dân cư thì có các làn đường exit xẻ vào và ra thuận lợi, nhanh chóng. Sát đường lớn, highway trong nội đô, người dân ít thích làm nhà ở, bởi xe de vào, ra hơi bất tiện khi đường đang có nhiều xe lưu thông, lại ồn ào. Chỉ có cơ sở kinh doanh, buôn bán, họ có bãi xe, parking lot riêng, lối vào lối ra cho khách. Cơ sở buôn bán, dịch vụ ven đường phải có giấy phép, licence hoạt động, mà giấy phép thì gắn với học nghề, đào tạo, có chuyên môn. Ngay cả cơ sở buôn bán, dịch vụ hoạt động phải được thiết kế theo quy định đặc trưng ngành nghề. Chứ không thể cứ lấy nhà ở sử dụng, buôn bán ven đường như ở Việt Nam. Nhà ở thì nói chung, tất cả đều nằm ở sát mặt đường, đường nhỏ hơn. Hầu như không có hẻm. Nhà ở xa, nơi heo hút, núi cao thì càng mắc, bạc triệu. 

Ở Việt Nam, nhiều tuyến đường, tỉnh lộ, quốc lộ, có đoạn ở cả đường cao tốc, dù phương tiện có trọng tải lớn như xe tải, container, xe khách chạy rầm rập, nhưng nhiều người vẫn thản nhiên họp chợ, thậm chí mua bán bát nháo dưới lòng đường. Nhiều chợ tự phát tồn tại, phát triển như ở Quốc lộ 1, Quốc lộ 50, Quốc lộ 22. Còn các con đường liên tỉnh, liên huyện nội địa thì tình trạng chợ cóc, chợ tạm dày đặc, là nơi mua bán nhộn nhịp, dù rất nguy hiểm. Thực trạng này chủ yếu do nhu cầu mua sắm của người dân theo thói quen, muốn tiện lợi, mua nhanh đỡ gửi xe, hoặc hàng hóa rẻ, phù hợp. Người bán đa số là người có thu nhập thấp, bán ven đường để đỡ tiền mặt bằng, thuế, vì mưu sinh nên bất chấp. 

Ven trục lộ giao thông vừa xây dựng, thường nhiều nhà mới được cất. Hàng quán, các dịch vụ phục vụ nhanh chóng mọc lên, dân cư tụ đến, mặc dù không phải tất cả các đoạn đường mới đều có thể kinh doanh, ai buôn bán cũng đều có thể giàu. Một thực tế là nhà mặt phố được hiểu đơn giản là những căn nhà nằm ở ngay mặt đường lớn chỉ ở những nơi có mật độ dân cư đông thì chủ nhà mới có cơ hội kinh doanh thành công hoặc bất động sản có giá trị. 

Nhưng từ quan niệm "phi thương bất phú", một phần bởi cuộc đời nông dân quá lam lũ, không được cải thiện. Sự phát triển của kinh tế thị trường nhiều mặt đã tác động đến nông dân, nông thôn rất khốc liệt. Những chuyển đổi đất nông nghiệp sang công nghiệp đã làm biến dạng không ít làng xã cổ truyền, nhiều người hoàn toàn không có tư liệu sản xuất hoặc không có tay nghề, khiến họ càng chuộng đô thị, tự phá hủy chính môi trường sống của mình để kiếm ăn. Nhiều nông dân tụ cư ven đường, lao vào cuộc sống hối hả, rồi thành thị dân, âu cũng là quy luật. Từ đó cơ chế làng khép kín của Việt Nam bị phá vỡ. Kéo theo văn hóa, tập quán tốt đẹp lâu đời của người Việt bị mất đi, dẫn đến hệ quả là sự suy thoái đạo đức, văn hóa nông thôn ngày càng trầm trọng, là điều khó tránh được. 

Và tôi vẫn nói, "nơi đáng sống" "có thể là nơi người ta cảm thấy vui, chính là nơi thuộc về mình, nơi quen thuộc nhất … Quen thì vui, đáng sống."

(Nguyễn Đông A)

Vai trò của Kim Tự Tháp trong thực hành thiền định


PYRAMID = PYRA + AMID

PYRA có nghĩa là: lửa ở trung tâm (chính giữa trung tâm KTT có năng lượng)

Kim tự tháp như là 1 ngôi nhà, cho năng lượng vũ trụ tập trung vào.

Góc tỷ lệ vàng của Kim Tự Tháp (Golden angle) là 51o50’ với 4 mặt là 4 tam giác cân.

Kim tự tháp được đặt đúng 4 hướng Đông Tây Nam Bắc, năng lượng sẽ tập trung nhiều nhất vào 1/3 tính từ dưới lên gọi là phòng King Chamber, thiền ở đây sẽ nhận được năng lượng nhiều nhất.



Năng lượng của Kim tự Tháp giúp cho:

1. Khả năng chữa lành

2. Tăng các trải nghiệm trong thiền định

- Trải nghiệm khả năng thoát xác, du hành vi tế

- Giấc mơ trở nên rõ ràng hơn khi thiền trong KTT,

- Người không thiền, giấc mơ sẽ trở nên rõ ràng hơn, khi ngủ trong  KTT.

Các nhà khoa học nói rằng KTT là 1 khoa học vượt ra ngoài sự hiểu biết của con người, nó đến từ người ngoài hành tinh.

Khi bạn thiền với KTT, bạn nhận được năng lượng gấp 3 lần. 

KTT có tác dụng khuếch đại tất cả những gì đã có sẵn ở trong bạn. 

-------

(Mình không thiền định, chỉ nghe bạn nói về Kim Tự Tháp hay nên ghi lại đây thôi à)

THẢM TRẠNG CỦA ĐÀN BÀ




Vì cái tình yêu vị tha ấy của người đàn bà mà họ phải luôn luôn suốt đời tùy thuộc người khác, những người mà họ yêu thương.


Nhưng cũng chính cái lòng yêu vị tha ấy là một trở ngại to tát cho đời sống an ninh và vật chất của người đàn bà.


Ta nên biết: ích kỷ là một thiên tánh tự vệ của muôn loài để giữ gìn mạng sống của mình. Thiếu nó, không khác nào đi trên con đường tối mà thiếu ánh sáng của bóng đèn. Tánh ích kỷ là một cái khô khan, cằn cỗi, xấu xa, hẹp hòi… Nhưng không có nó ta khó sống. Vì nó là sự khôn ngoan, sự bảo vệ quyền lợi và bảo vệ cái sống còn của mình.


Vì vậy, người đàn bà riêng mình không thể bảo vệ được đời sống của mình, mà phải cần đến người đàn ông. Đây là thảm kịch thứ nhất của người đàn bà. Trừ khi nào người đàn bà mà có tánh đàn ông, thì họ mới có thể không cần đến người đàn ông mà thôi. Cho nên, hễ là người đàn bà hoàn toàn đàn bà, thì họ không thể sống một mình, mà phải lệ thuộc người đàn ông hoàn toàn đàn ông mới được.


Tình yêu của người đàn bà thường lại mâu thuẫn với quyền lợi của họ.


Dục vọng của người đàn ông thường là những dục vọng ích kỷ: họ tìm thế lực, tiền bạc, địa vị, sự sung sướng xác thân v.v… Họ có thể đạt được mục đích ấy một cách dễ dàng và trực tiếp.


Trái lại, dục vọng của đàn bà là những dục vọng vị tha. Muốn đạt được mục đích của họ, người đàn bà không có một phương tiện nào chắc chắn cả. Sự yêu thương của kẻ khác, của những người sống một bên mình họ. Ngay như một sự sanh ra mà có diễm phúc được cha mẹ yêu thương, được làm một việc gì may mắn… cũng thường là do sự ngẫu nhiên đưa đến. Người ta thường bảo: “Trâu tìm cột, chứ có đâu cột lại tìm trâu”. Người đàn bà, dù là người sống tự do bậc nào cũng đâu phải được tự do lựa chọn người bạn trăm năm của mình, mà chính là mình “bị người ta lựa chọn”. Người đàn bà không thể với ý chí, với hoạt động, với công phu hay việc làm của mình mà chinh phục được tình yêu của người chung quanh, nếu tự những người ấy không thương mình. Tình yêu đâu có mua chuộc được, tình yêu là một cái gì không vụ lợi… Đối với người đàn bà mà tình yêu là tất cả lẽ sống của đời mình thì sự hên xui của số mạng phải chăng là một thảm kịch não nề!


Nhưng cũng chưa hết… Thảm kịch của người đàn bà đâu phải chỉ ở ngần ấy việc mà thôi.


Đặt để cái trung tâm của lẽ sống mình nơi kẻ khác, ở những kẻ ngoài mình mà sự ham muốn không giống mình mà quyền lợi cũng không giống mình, dĩ nhiên người đàn bà lại bị hãm vào một tình thế bi thảm nhất, là không làm sao dung hòa được khát vọng của mình với quyền lợi của mình.


Quyền lợi là gì? Phải chăng là những lợi ích cho mình, đem đến cho mình thêm sức khỏe, tiền bạc, danh vọng, vui sướng, hạnh phúc… Người đàn ông thì đeo đuổi theo công danh, tiền bạc, sắc đẹp, ăn ngon ngủ kỹ… Những cái đó là những khát vọng của người đàn ông, hễ một khi họ thâu đoạt được những nguyện vọng ấy, thì họ cảm thấy được sung sướng, hạnh phúc ngay vì đã được thỏa mãn. Danh vọng, tiền bạc, địa vị… làm tăng thêm uy thế họ; ăn ngon ngủ kỹ làm tăng được sức khỏe họ… Còn đối với người đàn bà đâu phải đó là sanh mạng của họ? Họ cần nhất là yêu thương và được yêu thương, được chăm nom săn sóc những người chung quanh và được chính mình tạo nên sự sống… Đó là tất cả những khát vọng thiết tha của họ, nền tảng của những sự sướng khổ của họ… Nhưng, khát vọng ấy lại luôn luôn đi ngược quyền lợi riêng của họ.


Lợi gì cho người đàn bà khi phải có con? Có con thì phải thức đêm thức hôm mà săn sóc, suốt đời đau khổ lo âu… Có con thì có tăng thêm gì sức khỏe, tiền bạc, danh vọng cho mình nữa không? Trái lại, có con là cả một cái gì càng làm cho con người của mình càng ngày càng thêm kém sút…


Lợi gì cho người đàn bà khi phải lìa bỏ tổ ấm của mẹ cha để về nhà chồng. Nơi nhà cha mẹ, từ lúc lọt lòng đến lớn… được cha mẹ nưng niu như trứng mỏng, chiều chuộng yêu thương; người đàn bà phải bỏ nó mà đi theo một người đàn ông lạ nào, không chút tình cốt nhục, cũng không hiểu mình là ai… để vào một gia đình khác mà chắc chắn người ta sẽ không bao giờ đối đãi với mình một niềm âu yếm không bờ bến như tình nghĩa mẹ cha và anh em cật ruột của mình. Chắc chắn những quyền lợi mà mình đã hy sinh khi bước chân về nhà chồng như sung sướng tự do, nhàn rỗi ngây thơ và lắm khi danh tiếng địa vị xã hội của mình… người chồng có thể bù đắp được chút nào hay không? Lắm khi bị chồng hất hủi sau khi đã chán chường… và gia đình của chồng coi mình như kẻ thù đi “ăn chực” tình yêu… Thử hỏi, những quyền lợi thực tế mà người đàn bà đã hy sinh ấy có được đền đáp chút nào hay không?


Lợi gì cho người đàn bà khi phải lo lắng cho con cái, lo cho nó được nên vai nên vóc, để rồi phải sống một mình trong thương nhớ, nhất là trong cái tuổi mà mình cần phải yêu thương và được yêu thương… hơn lúc nào cả. Tình cảnh của một bà mẹ yêu con tha thiết từ nhỏ đến lớn không một phút rời con, mà bấm bụng phải để cho con mình bước chân ra đi… về một gia đình xa lạ… là cả một cái thảm kịch cay chua nhất của một người đàn bà.


Nếu lấy về phương diện quyền lợi của người đàn bà mà nói, tôi quả quyết người đàn bà không bao giờ dung hòa được lòng khao khát yêu đương của mình đối với quyền lợi ích kỷ và thiết thực của mình. Nhưng mà người đàn bà thật là đàn bà lại sẵn lòng hy sinh tất cả quyền lợi ấy để thỏa mãn cái thiên tính khao khát yêu đương của mình, vì đó là tất cả cái hạnh phúc của mình mà thôi.


Thật ra, nếu đem những quyền lợi ích kỷ của người đàn bà mà so sánh, cân nhắc với hạnh phúc vị tha của họ, thì cũng khó biết được cái nào là chánh đáng.


Có nhiều người đàn bà bị lôi cuốn trong cái ảo vọng tìm khoái lạc hạnh phúc ích kỷ bằng cách lo phục vụ quyền lợi của họ như người đàn ông… Họ đã hy sinh cái tâm hồn phụ nữ của họ, từ bỏ sứ mạng thiêng liêng của một người mẹ, của một người vợ, của một nạn nhân của tình yêu, của một tâm hồn khao khát yêu thương cho kẻ khác… để lăn mình vào con đường chánh trị, tranh đấu cho địa vị, quyền tước, danh vọng tiền bạc, đi tìm hạnh phúc cá nhân để có được một thanh danh như người đàn ông. Phụ nữ ngày nay phần nhiều đều có cái cao vọng. Nhưng rồi một khi họ thỏa mãn được những khát vọng vị kỷ ấy, họ đã được phú quý, danh vọng, tự do… họ lại cảm thấy họ đã “thả mồi bắt bóng”. Giữa những tiếng hoan hô của quần chúng, giữa lúc họ đã thực hiện được những cao vọng “phỉ chí nam nhi, tung hoành bốn cõi”, họ đã thỏa được mộng “tang bồng” … thì họ cảm thấy trong tâm hồn có một cái gì trống rỗng… lạnh lùng. Họ cảm thấy họ thiếu sự yêu đương và được yêu đương. Cái chân hạnh phúc của họ là ở trong tình mẫu tử, ở trong tình yêu của những người chung quanh họ, chứ không phải ở nơi những bả vinh hoa phú quý ấy.


Thêm nữa, cái thảm trạng của người đàn bà như thế cũng chưa phải là hết. Lòng yêu vị tha của họ chẳng những không thuận với quyền lợi ích kỷ của họ mà còn bắt họ phải xung đột với tình thương của những người thân yêu của họ nữa.


Cha, chồng, con cái… mà họ thương yêu, mỗi người lại có một bản tính khác nhau, mỗi người lại có những điều ham muốn đòi hỏi khác nhau, thường lại xung đột nhau… Làm một bà mẹ dễ gì mà dung hòa được lòng thương đối với mỗi đứa con. Làm vợ, làm con, làm em… thì cũng dễ gì điều hòa tình yêu mình đối với cha mẹ, đối với anh em!


Những người thân yêu của mình, họ lại đòi hỏi nơi mình những đức tính và phận sự khác nhau.


Lúc chưa cưới… thì họ đòi hỏi nơi mình phải được đầy vẻ duyên dáng mỹ miều, ngây thơ và vụng dại… Người tình nhân bao giờ cũng muốn cho mình dễ dãi ngu dại để mà họ dễ bề lợi dụng… Họ rất ghét kẻ khôn lanh và nhiều kinh nghiệm… Nhưng đến khi họ cưới mình rồi, thì trái lại, họ đòi hỏi mình phải đứng đắn trang nghiêm, biết lo lắng cho nhà cửa, làm bếp giỏi, giúp đỡ mọi nặng nhọc, như kẻ tôi đòi, nghĩa là phải là một người già kinh nghiệm, khéo léo và hy sinh. Tình yêu đầu phải là mục đích đời người của người đàn ông. Người vợ cưới rồi, đối với họ, không còn phải là người tình nhân nữa, mà là một người bạn đường, một kẻ đỡ gánh nặng và bao hàm tất cả công việc nội trợ. Thế là người đàn bà phải chịu đựng và phải biết chiều theo những đòi hỏi ích kỷ ấy.


Đối với con, cũng như thế. Lúc còn nhỏ, nó đòi hỏi bà mẹ phải luôn luôn ở một bên không được rời nửa bước, để mà an ủi, dỗ dành, săn sóc nó từng li từng tí… Nhưng vài năm sau, khi đứa trẻ ấy lớn lên, nó lại đòi hỏi bà mẹ phải để nó tự do, đừng can thiệp gì đến đời sống nó nữa. Nó không muốn nghe mẹ khuyên lơn hay săn sóc và lo lắng đến nó nữa: nó muốn sống tự do một mình. Đứa trẻ ấy đòi hỏi có lý lắm, thế nhưng bà mẹ đã quen chăm nom, săn sóc con từ thuở bé, làm gì bỗng dưng lại có thể bỏ con mà tuyệt không còn lo nghĩ gì đến nó nữa được không? Ôi! Cả một cái gì bạc bẽo, bội ân… lẽ ra phải làm tê tái những tâm hồn vị tha nhất; thế mà người đàn bà vẫn nhẫn nại và yêu thương… yêu thương mãi…


Tóm lại, nào đâu phải vì ác ý của người đàn ông hay luật lệ khắt khe của người đời bày ra để đày ải người đàn bà phải uốn mình chiều theo dục vọng kẻ khác, phải hy sinh cho kẻ khác… Nhưng thực ra, chính cái bản năng khao khát tình yêu của người đàn bà mà tạo hóa đã phó cho để thực hiện sứ mạng thiêng liêng cao cả của họ, khiến họ luôn luôn như bị:


Ma đưa lối, quỷ dẫn đường,

Lại tìm vào chốn đoạn trường mà đi.


Đâu phải chỉ lo cải tạo chế độ xã hội là đủ để mưu hạnh phúc cho người đàn bà, mà ta phải giáo dục người đàn ông thế nào để họ hiểu được tâm sự của người đàn bà, hiểu để mà thương và có trách nhiệm giúp cho người đàn bà thoát khỏi những nỗi khổ tâm mà suốt đời họ phải âm thầm chịu đựng.


Một ông cha sáng suốt, biết yêu quý con gái mình vì đã hiểu nỗi lòng thầm kín của con, thì không bao giờ ông lại lo lắng vì sự bất công không bênh vực được quyền lợi của con mình đối với quyền lực của người chồng. Điều mà ông ghê sợ nhất cho đứa con yêu quý của ông là chỗ ngây thơ vụng dại của nó trong sự nhận xét sai lầm tâm lý của người đàn ông và nhân thế sẽ gây cho nó sau này bao nỗi chua cay thất vọng. Ôi! Nếu đứa con gái của ông mà hiểu rõ con người đàn ông được như ông… thì ông sẽ yên lòng biết bao về tương lai hạnh phúc của nó!


Địa vị của xã hội ngày nay, tựu trung cũng giống hoàn cảnh của ông cha này. Xã hội mà muốn mưu hạnh phúc cho người đàn bà thì cần thiết nhất là lo giáo dục người đàn ông cũng như người đàn bà, soi đường chỉ nẻo cho họ hiểu nhau để tránh những nỗi đau lòng vì hiểu lầm nhau và gây cho người đàn bà những đau khổ vô ích thêm vào các thảm trạng vô cùng bi đát mà ta đã thấy trước đây.


Người đàn bà có nhiều đặc tính rất xa người đàn ông.


Chỉ vì tưởng lầm rằng đàn ông cũng như đàn bà, tâm tính đôi bên đều như nhau, mà phần đông cứ lấy bụng ta mà suy bụng người, nên mới có những sự hiểu lầm xô xát.


Văn sĩ André Maurois có nói: “Dù cho đôi nam nữ mong ước cuộc hôn nhân thế mấy, dù cho lứa đôi có mê luyến nhau thế mấy, và họ có thật thông minh thế mấy, thì đôi bên nam nữ đều phải cầm chắc rằng mình sẽ chung sống với người lạ và người đó sẽ làm cho họ ngạc nhiên vô cùng… Lúc ban đầu… trong khi hòa hợp nhục thể, trong cái say đắm buổi đầu, bao nhiêu nỗi khó khăn, đôi bên đều có thể chiều chuộng như tạm quên hẳn được cả… Nhưng, thời gian, sau khi người đàn bà, cũng như người đàn ông đã ráng tìm phương để thành một người khác, để họ không còn phải là người đàn bà nữa với tâm hồn riêng thực của họ, họ mới nghĩ thầm: “Mình vẫn muốn theo sát bên chàng, nhưng thế không phải. Mình sanh ra nào phải để làm như thế đâu!” Còn người đàn ông cũng sẽ nghĩ đến cái mộng riêng của mình, cái mộng “tang bồng hồ thỉ”… rồi nhớ đến kiếp giang hồ phiêu bạt như chàng Từ Hải.


Nửa năm hương lửa đương nồng,

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.

Trông vời trời bể mênh mang,

Thanh gươm, yên ngựa lên đàng ruổi dong.


Thì ra khi dục tình thỏa mãn, mỗi người mới cảm thấy sự đòi hỏi của tâm hồn mình và tìm cách để trở về với cái người thật của mình: Bấy giờ họ lại vẫn thấy cô đơn lạnh lẽo và hai người vẫn là khách lạ qua đường, không ai còn hiểu ai được nữa.


Chính lúc “tuần trăng mật” đã qua, thì… lại sang qua thời kỳ hắt hủi và chán chường phải có, sau một hồi nhiệt tình quá độ… Bấy giờ là lúc “lứa đôi xung khắc”, không phải xung khắc toàn diện, nhưng xung khắc một phần nào. Họ không còn hiểu nhau được nữa; họ chỉ lấy một niềm thương lợt lạt xa cách mà chịu đựng nhau thôi cho qua cái chuỗi ngày chán nản. André Gide nói: “Xem thế, thì thấy rõ hai con người, tuy ta thấy họ vẫn chung sống một cuộc đời như nhau, vẫn cũng gọi là yêu mến nhau đấy… nhưng họ chẳng khác nào hai nước bế quan tỏa cảng…”.


Nhưng đôi khi, sự tình lại nghiêm trọng hơn và từ sự không hiểu biết nhau, hai vợ chồng lại đi lần đến sự hiềm ghét nhau.


Chung quy, bảo rằng hai tâm hồn không yêu nhau là sai, nhưng sự đau khổ của họ, là chỗ quá yêu nhau, mà không hiểu được nhau… vì tâm hồn của họ là cả hai thái cực. Vậy biết rõ tâm hồn sâu kín của đôi bên mới có thể mưu cầu hạnh phúc cho nhau được mà thôi.


Trích “Thuật yêu đương” – Thu Giang Nguyễn Duy Cần

18 TRIẾT LÝ NHÂN SINH CÓ TÁC ĐỘNG VƯỢT TRÊN CẢ PHONG THUỶ

 1. Dựa vào người khác vĩnh viễn không có tiền đồ

Tục ngữ nói: “Dựa vào núi thì núi đổ, dựa vào cha mẹ thì cha mẹ già, dựa vào anh chị em thì họ sẽ lẩn tránh”, câu này nhắc nhở mọi người, con người chỉ nên dựa vào chính mình, bất luận là ai thì cũng đều không đáng tin. Trên thế giới này không có người nào có thể dựa vào được, kể cả cha mẹ của bạn hay là con cái của bạn cũng không thể dựa vào được.

Nếu như không tự mình đứng lên mà lại trông chờ người khác cho bạn dựa vào, ỷ lại vào người khác, đó là người vĩnh viễn không có tiền đồ.



2. Khí độ quyết định cao độ

Hãy nhớ kỹ, trên đời này không dễ ai cho không ai cái gì, hết thảy thành công đều phải dựa vào sự cố gắng của chính mình. Mỗi người đều có khí độ, tri thức, phạm vi, tâm thái khác nhau. Bạn muốn thành công lớn, lập nên sự nghiệp lớn, muốn bồi dưỡng khí độ của bản thân to lớn như biển cả, vậy phải dành nhiều thời gian để phát triển bản thân, đừng tốn thời gian đi trách móc, đố kỵ với người  khác.


3. Biết tận hưởng sự cô đơn

Khi màn đêm buông xuống con người mới tĩnh lặng trở lại, có người leo lên đỉnh núi cao hoặc đi tới sa mạc rộng lớn, cảm giác vô cùng yên tĩnh, nước mắt không hiểu vì sao tự nhiên chảy xuống. Đây không phải là đau thương cũng không phải là hạnh phúc, đó là cảm giác vô cùng thoải mái của sự tĩnh lặng, mỗi bộ phận trên cơ thể đều tự nhiên mở ra, nỗi thống khổ, phiền não trong nội tâm phút chốc không còn gì nữa. Đó là tận hưởng sự tịch mịch, không phải có tiền là có thể mua được.


4. Người làm việc đại sự tất phải biết tùy biến

Các vĩ nhân trong lịch sử đều có một số đặc điểm chung, thứ nhất là người lãnh đạo có trí tuệ hàng đầu, hiểu được bước tiếp theo nên thay đổi như thế nào mà dẫn dắt mọi người đi theo, luôn nhìn xa trông rộng. Thứ hai là người biết ứng biến, thuận theo sự thay đổi. Thứ ba là người mà dù cho tất cả đã lay động, anh ta vẫn có thể đứng nguyên tại chỗ bất động, đây chính là chỗ khác biệt của vĩ nhân.


5. Năng lượng của sinh mệnh đến từ “Tĩnh”, càng gặp khó khăn lại càng phải tĩnh

Chúng ta thường nói, quy luật của vũ trụ là bất biến, con người trong cuộc sống thường quên đi sự tĩnh tại, trái lại còn cố hết sức đi làm tiêu hao chính mình, mà không suy nghĩ xem nguồn gốc con người từ đâu mà đến? Chính là từ trạng thái tĩnh mà sinh ra, từ không không mà đến. Vì sao mà con người ta bận rộn cả ngày đến đêm lại thấy buồn ngủ? Chính bởi vì con người cần trạng thái tĩnh, đầu óc không nghỉ ngơi là không được.

Có đôi khi phải xử lý một chuyện phức tạp, khó khăn, không làm sao giải quyết được, vậy thì trước tiên phải buông tâm xuống, tĩnh tại lại, không suy nghĩ gì hết. Bỗng nhiên từ trong tư tưởng lại xuất ra một phương pháp có thể giải quyết vấn đề, đây chính là tác dụng của tĩnh. Nếu như bạn càng suy nghĩ thì càng làm cho đầu óc bị bức bách, các dây thần kinh đều căng lên, cuối cùng không chết cũng bị bệnh.


6. Tu hành chân chính là tu trong cuộc sống hàng ngày

Không nên sợ gặp khốn cảnh, vì nó có thể rèn luyện tâm tính của bạn, đề cao tầng thứ của bạn, tăng trưởng trí tuệ của bạn. Chân chính tu hành, chính là tu ngay trong cuộc sống hàng ngày. Nếu như bạn dùng tấm lòng rộng lượng dung nạp hết thảy, bao dung hết thảy, bạn sẽ không có việc gì là nghĩ không thông, xem hết thảy mọi người đều là người tốt, xem hết thảy sự tình, hoàn cảnh gặp phải đều là chuyện tốt.


7. Tâm tính tốt, thế giới mới có thể tốt đẹp

Phàm là việc gì cũng nên cân nhắc chính mình, suy nghĩ cho người khác. Chỉ có bỏ đi sự ích kỷ, tư lợi, tự ái, bạn mới có thể tự tại được. Không nên đi thay đổi người khác, nhìn người khác không vừa mắt, trước tiên điều chỉnh tâm tính của mình cho thật tốt, tu sửa tâm của mình, hoàn cảnh xung quanh sẽ tùy theo tâm mà chuyển. Bạn đối xử với người khác như thế nào, người khác cũng sẽ đối xử lại với bạn như vậy, không nên lúc nào cũng oán trời trách đất, đừng lúc nào cũng nhìn vào tật xấu của đối phương.


8. Quên ơn của mình, nhưng không quên ơn của người

Giúp đỡ người khác, làm điều lợi cho người khác, trong tâm không cần lúc nào cũng phải nhớ đến, nên quên nó đi. Nhận được ân huệ của người khác thì nhất định phải nhớ kĩ. Có câu: “Làm việc ân huệ thì đừng nhớ, nhận được ân huệ thì chớ quên“.


9. Làm người phải biết an phận, biết đủ là giàu có

Làm việc gì cũng phải chừa lại đường lui cho mình, những chuyện tốt, tiện nghi thì cũng không cần nhiều, lấy nhiều rồi sẽ gặp phiền toái, đó gọi là “Biết đủ là giàu có”. Cũng nên hiểu được thời vận, cố gắng hết sức mình sẽ nghe được thiên mệnh, làm được như thế mới gọi là làm người.


10. Giao hảo bạn tốt

Cổ nhân khi nói về giao hảo với bằng hữu có câu: “Quân tử kết giao nhạt như nước”, bạn tốt không phải là bạn nhậu, không phải mỗi ngày đều lui tới, mà bạn tốt bình thường lại rất nhạt nhẽo. Nhưng đó không phải là lạnh lùng, vô cảm, mà chỉ cần gặp phải khó khăn hay ốm đau bệnh tật thì bạn bè nhất định sẽ tới ngay. Có đôi khi mắt chỉ nhìn nhau thì coi như đã chào hỏi xong rồi, vì trong đó có chứa cả sự chân thành.


11. Đạo lý xử thế

Nhớ kỹ một câu: “Nghiêm khắc đối với bản thân, rộng rãi đối với người khác”, đối với chính mình yêu cầu nghiêm khắc; đối với lỗi sai của người khác, khi trách cứ cũng không cần phải nghiêm khắc như là đối với bản thân mình. Xử thế cũng như vậy, đối với lãnh đạo cũng tốt, đối với đồng sự cũng tốt, đối với cấp dưới cũng tốt, oán hận tự nhiên mà ít đi.


12. Càng than nghèo thì càng nghèo

Không nên suốt ngày than nghèo khổ. Người than nghèo mới thật là nghèo hèn. Người than nghèo, chính là không biết đủ, hoặc là muốn được bố thí, không muốn phải bỏ tiền túi ra. Vì tiếng than này, ông trời sẽ ban từ trường “nghèo” cho bạn, kết quả là càng ngày càng nghèo.

Người muốn giàu có, đầu tiên phải biết đủ, biết đủ là một loại thành công. Đối với sự tình gì cũng đều phải biết đủ, thời gian dần qua cuộc sống sẽ càng ngày càng khá lên, nếu không sẽ càng ngày càng nghèo đi.


13. Vì người khác cũng là vì chính mình

Một người có đạo chân chính, sống trong xã hội này thường có rất nhiều oan ức, thống khổ. Không thể lúc nào cũng tìm người khác để than vãn, chỉ có cách tự mình phải vượt qua. Không nghĩ đến lợi cho bản thân, mà chỉ nghĩ đến tốt cho người khác, ông trời ngược lại sẽ không bạc đãi bạn, và bạn cũng từ từ trở nên tốt hơn.


14. Không có ý chí mới đáng sợ

Người trẻ tuổi dù cả đời không có sự nghiệp cũng không sao cả; cả đời không có ý chí mới là vấn đề. Mặc dù có ý chí cũng không nhất định là có thể làm nên sự nghiệp; nhưng nếu như không có ý chí, thì cũng giống như một bài thi bị vo ném vào sọt rác, người trẻ tuổi này coi như là hỏng rồi.


15. Khổ nạn là điều tốt

Trong lịch sử nhân loại phàm là người lập được công lớn, làm nên sự nghiệp lớn, người làm đại sự, đều là từ trong đau khổ mà vươn lên. Mà chính những người từ trong gian khổ vượt xuất ra được, mới hiểu được đạo lý đối nhân xử thế.

Cho nên đối với việc thành tựu một người mà nói, có đôi khi tuổi trẻ chịu khổ nhiều một chút, gặp nhiều gian nan vất vả lại là điều tốt. Muốn làm người lập được công lớn, lập nghiệp lớn, người làm đại sự, nhất định phải có trải nghiệm cuộc sống phong phú.


16. Quân tử không oán trời trách đất

Người có thể không oán trời trách đất, tự xem lại chính mình: Vì sao ta không đứng dậy nổi? Vì sao ta không đạt được mục đích? Có phải là do các vấn đề của bản thân như học vấn, tu dưỡng, phương pháp. Chính mình tự rút ra kinh nghiệm xương máu mà sửa lại, trong nội tâm không chất chứa ý niệm oán trời trách đất. Theo quan niệm hiện đại mà nói, loại tâm lý này là rất sáng suốt, như vậy mới được gọi là quân tử.


17. Bớt khoác lác và làm nhiều hơn

Khổng Tử nói, quân tử chân chính, nên ít nói suông mà làm nhiều hơn. Từ xưa đến nay, tâm lý của nhân loại cũng đều giống nhau, đa phần là nói nhiều còn làm được thì rất ít. Lý tưởng cao quá đến khi làm lại không thực hiện được.


18. Cảnh giới cao nhất chính là bình thường

Học vấn càng cao tư tưởng càng phức tạp. Làm sao vừa có được học vấn cao lại vừa có thể làm một con người đơn giản, đó mới gọi là đệ nhất thiên hạ, bởi cao siêu nên mới bình thường.

st

“Ở đâu cũng được, nhà là nơi có người thương..”

“Ở đâu cũng được, nhà là nơi có người thương..”

…….

BÀ GIÀ ĐI BỤI

Nguyễn Ngọc Tư

.
.
Ngồi ở ngoài hiên có thể ngửi được mùi biển cả. Hoa cúc dại mọc liếm lên thềm. Ngôi nhà của tụi mình không cần rộng, chỉ cần kê vừa một cái giường và gian bếp. Ở đó có ông già hơi lãng đãng, đôi khi lấy điện thoại di động khuấy cà phê, hay ngồi nhìn mây những khi ti vi hết chương trình thế giới động vật. Ở đó có bà già hí húi cọ nồi, lâu lâu vói tay ra sau tự đấm lưng. Radio mở rọt rẹt chương trình ca cải lương cuối chiều, miệng bà cằn nhằn tối qua không ngủ được vì ông già ngáy dữ quá. Đêm nay tôi sẽ thủ cục muối hột, cứ hả họng ra ngáy là tôi thả vô miệng cho mặn thấy mồ tổ. Mặt ông già tê mê, khoái chí nói bà cằn nhằn cũng có duyên, y như hồi xưa vậy, thiệt chẳng bõ công tôi bỏ xứ theo bà.

Bức tranh đó hai mươi năm trước ngoại và bồ cùng tô vẽ, mỗi khi hẹn hò. Viễn tượng đào được hủ vàng cũng không gây say ngây bằng nằm cạnh nhau thêu dệt một tổ ấm cuối đời.

Ngoại hồi ấy mới bốn mươi, cứ tủm tỉm cười hình dung mùi dầu gió trên bâu áo bồ những ngày trở lạnh. Bồ nói bao giờ già sẽ về sống với ngoại (lúc ấy cũng già), ở đâu cũng được, nhà là nơi có người thương. Gần biển thì thích hơn vì khí trời ở đó tốt cho lá phổi rệu rã của thằng từng nghiện thuốc lá. Ngoại sẽ nấu những món ăn bồ thích, sáng bắc nước pha trà chiều pha vào chậu cho bồ tắm. Thỉnh thoảng bồ hé cửa nhà tắm ngoắc tay, bảo ê bà kỳ lưng giùm tôi coi. Vài lúc bồ quên gội đầu, ngoại sẽ rầy rà đàn ông gì mà hôi rình. Dĩ nhiên đàn bà tuổi đó sẽ cằn nhằn rỉ rả suốt ngày. Cằn nhằn gió, cằn nhằn gạo lên giá và nhất là cằn nhằn ông bồ lơ ngơ, vô tâm.

- Ui trời, giao việc cho người ta nhiều vậy. Ngộp thở. Lúc đó anh sẽ làm gì?
- Làm gì nữa?! Anh ho.

Ngoại nhét sổ tiết kiệm vào ngăn trong túi xách, hơi thắt ngực khi nhớ lại mình đã dùng chân khóa chặt bồ như thế nào, lúc bồ nói chỉ việc ho thôi là đã cực thân lắm rồi. Cái ý nghĩ hồi đó mình mạnh thiệt làm ngoại có chút bùi ngùi. Lần gần nhất quắp bồ ngoại nghe như mấy cái khớp xương mình long ra.

Ngó nghiêng lại hành lý lần nữa, ngoại nghĩ chắc là không bỏ sót gì. Dầu gió, thuốc huyết áp, áo ấm, mấy cuốn sách… vẫn còn nguyên trong giỏ xách từ chuyến đi bụi không thành lần trước.

Hôm đó ngoại ra khỏi nhà từ mờ sáng, xe chạy ba chục cây số mới sực nhớ bỏ quên giấy tờ tùy thân, ngoại quay lại lấy thì chồng con Hai đã dậy ra tưới cây. Thằng rể nói vói qua rào, vợ con đau bụng từ khuya giờ, chút má nấu cháo cho nó ăn với. Con đi đám tang ông già thằng bạn dưới quê, chiều má chạy lại nhà trẻ đón bé Bí luôn nghen. Ngoại mở cửa vào vo nắm gạo bắc nồi cháo lên bếp, lúc đem cất túi xách vào ngăn tủ, thấy hơi tan nát. Nhắn cho bồ hay, bồ nói tôi cũng đang không biết nói sao với em. Tụi nhỏ biết ba nó sắp đi chơi, nên cũng giấu biệt chòm răng giả rồi, sao dám đi ra đường đây.

Giọng nói của bồ, không biết có phải vì mất mấy cái răng giả hay không, có chút mếu máo. Ngoại nói, thôi, lần sau, em hứa.
- Nghi lắm! Bồ nói, nhấn trọng âm “lắm” cho ra vẻ hài hước, sao nghe như một tiếng thở dài.

Chính ngoại cũng hồ nghi lời hẹn của mình, bởi cái tính chất bất định của nó. Lần sau là bao lâu? Những chuyến đi không thành dạy ngoại chẳng nên cược vào nhiều hy vọng. Có lần ngoại gọi cho bồ bảo chậm lắm là chiều mai em sẽ nấu cơm cho anh. Chiều mai tụi mình sẽ thuê một căn nhà ở Đậu Phố, bắt đầu sống như một gia đình mới ra riêng. Bồ nói em sắm chén bát ít thôi, vài tháng là chúng ta trả nhà đi lang thang chỗ khác. Bữa đó ngoại chưa đi qua khỏi cây cầu ranh giới giữa Sầu Đâu và tỉnh bạn thì phải quay về. Gái Út gọi điện thoại hớt hãi nói má ơi thằng Bi bị đứt tay. Ngoại hít thở một hơi dài nói vậy con băng bó cho nó đi, má đi xóm rồi. Nó kêu trời, hỏi bông băng để ở đâu. Ngoại lại nuốt nước bọt, cố nhớ coi chỗ mình cất thuốc nhưng không sao nhớ được bởi đầu dây bên kia là tiếng thằng nhỏ Bi kêu gào thảm thiết, gọi ngoại ơi ngoại à, đau quá.
Xe đò dừng ở bên đường trả khách. Bà ngoại về tới nhà thì thằng Bi cũng nín khóc, ngón trỏ quấn chặt vào vạt áo, tay kia cầm que kem mút ngon lành. Út thấy hành lý ngoại phồng lên, kêu chói lói má tính đi đâu vậy, lỡ con trực đêm thì thằng Bi ngủ với ai?

Con em méc con chị, ba đứa con gái phát hiện ra âm mưu bỏ nhà đi bụi của bà già. Tụi nó thay nhau canh giữ bà mẹ bằng cách dúi cho bà mấy đứa trẻ, nhờ bà đan áo len cho mùa đông tới. Tấm muốn đi chơi hội thì phải xong việc đã, cũng may tụi nhỏ không đến nỗi trộn lẫn đậu xanh và đậu đỏ để bắt mình nhặt ra đậu… xanh, ngoại nói với bồ, cố cười giòn trong điện thoại, mà cay mắt.

Mấy đứa con gái siêng nịnh nọt hơn, thường xoa bóp vai ngoại mơn trớn, “Không có má tụi con không biết sống sao”. Gái Lớn biết ngoại có mối tình ở đâu đó rất xa, vài tháng lại hẹn hò một lần, và những chiều nắng đẹp ngoại hay đờ đẫn. Con nhỏ giả bộ như không biết. Giống như Gái Giữa vẫn nhớ má đã từng nói muốn dành những năm tháng cuối đời để sống cho mình, nhưng nó lơ luôn khi nghĩ tới sau mỗi chuyến công tác dài ngày nhà cửa sẽ mọc lông. Có ngoại thì đi bao lâu nhà nó vẫn ngăn nắp như mới, chiếu gối được giặt thơm tho. Và mỗi lần ngoại đi sưu tầm thêm túi xách du lịch vô ngăn tủ đã lủ khủ túi xách, hay bỗng lặng người nghe tiếng máy bay qua, Gái Út biết mộng giang hồ của bà già đang trỗi dậy. Nó cắt cúc áo đem qua nói má ơi khâu lại giùm con, cuối tháng này con đi tập huấn tới cuối tháng sau, má nấu cơm cho cha con cu Bi ăn với.

Ngoại lại có bộ sưu tập mới: bản đồ. Mỗi năm họ cập nhật một lần, ngoại dò ra mỗi năm xuất hiện một vài con đường mới, riêng con đường mình thèm cất bước sao cứ khép dần. Trải bản đồ ra coi trong lúc canh chừng mấy đứa cháu ngoại chạy quanh, ngoại di ngón tay tìm lại những nơi quen thuộc. Đây đèo Gió, bồ bảo chúng ta sẽ đến đây mượn một căn nhà sàn của người Nùng, tụi mình làm nương tỉa bắp. Chừng bẻ đợt bắp đầu tiên mình đốt lửa nướng ăn một bữa no nê, rồi gói gém hành lý ra đi. Mình trồng nhãn, mít ở những nơi mình đến mà không chờ hái trái. Mình đi sâu vào đồng bãi ghi lại những câu hát hồi xưa, nếm thử những món ăn quê xứ người. Cũng có thể mình nhận chăn thả một bầy dê chừng chục ngoài con, hoặc đi chăn vịt chạy đồng. Ta bà đây đó, làm lụng cho vui, cho cơ thể vận động thôi, vì sẽ sống bằng tiền dành dụm từ bây giờ.
- Ừ, nghe mà thèm quá đi. Biết tới chừng nào, hén?
- Chờ tụi nhỏ lớn. Bồ nói, chắc như đinh đóng cột.

Hồi ấy cả ngoại và bồ đều ngây thơ. Cái khái niệm lớn của những đứa con thật ra không dừng lại ở tuổi mười tám, hay ở cái ngày tụi nó dựng vợ gả chồng. Con cái mãi mãi không lớn. Ngoại dạy cho Gái Lớn cách mặc tả cho con nó thì Gái Út chết hụt vì thất tình. Bồ ở chỗ cách Sầu Đâu một ngàn ba trăm cây số cũng không khá hơn, con gái yêu nhằm thằng nghiện, con trai du học cần rất nhiều tiền. Gặp nhau vội vàng được vài ba bữa, lại gối đầu lên đùi mơ ngôi nhà tranh vách đất có ông già khó tính sống với bà già càm ràm.

Ngoại nhìn quanh nhà mình lần nữa, nghĩ phải đi thôi, đến lúc dứt rồi. Lúc khóa cổng ngoại đặt chìa khóa dưới chậu lan đất. Tụi nhỏ sẽ biết chỗ lấy để vào nhà đốt nhang ba chúng, mỗi chạng vạng. Đi đến cây cầu cửa ngõ thành phố ngoại sực nhớ chưa tắt điện thoại, cũng may chưa có đứa con nào gọi để hỏi thuốc nhức răng đâu, má ơi.

Cơn mưa lúc gần sáng làm con đường loang ướt. Nắng lên, ánh sáng nhuộm nó thành một dòng sông sáng lóa. Rực rỡ, kiêu bạc mà hết sức dịu dàng. Ngoại nghĩ đường đến thiên đàng không biết có giống vầy không. Ngoại ngây ngất uống lấy dòng sông vàng chảy tràn trước mặt, biết rằng khoảnh khắc này sẽ không gặp lại lần nữa, trong đời.

Bạn đường hỏi dì đi chừng nào về. Ngoại bảo chưa biết nữa, đi bụi mà, tới đâu hay tới đó. Nhưng chắc chắn có ghé biển. Bồ đã chờ sẵn. Hải lưu chắc đưa tro của bồ đi khắp góc biển chân trời.

Sực nhớ cuốn sách viết về chợ Việt đã để quên ở nhà. Ngoại muốn tra coi chợ Ngâu họp phiên vào ngày nào sau Tết. Hình như mùng bốn, phiên ấy người dương sẽ gặp người âm. Không biết bồ có nhớ chỗ đó không, có đến kịp không. Nghi lắm!