Saturday, April 6, 2019

Mẹ và hôm qua!


Truyện ngắn.
khôi hạo nguyễn.
..............
(Tôi muốn gửi đến những người con còn mẹ.. Tôi muốn gửi đến em và hãy trân trọng khi còn có thể. Và xin cúi xuống tạ ân mẹ. Đừng để nước mắt chảy muộn.
Xin tạ lỗi người đàn ông khốn khó... Tạ lỗi cuộc đời... Xin tạ lỗi cậu em... Tạ lỗi, một tương lai đen tối. Tôi xin tạ lỗi những chúng sanh đã chết vì ta, bằng máu và nước mắt. Và xin tạ lỗi cùng vạn vật. Thành kính! Ơn đời!)
*****

Chiều về trên con đường vắng. Thỉ thoảng có chiếc xe khách chạy qua, cuốn bụi đỏ hất vào mặt mịt mù.
Tôi lững thững bước về hướng Sài Gòn với một cảm giác lạ... Tự do của một thằng tù vừa được thả, cái sợ của một thằng người lạc lõng và mất mát, không biết phải bắt đầu từ đâu. Một thằng tù biệt xứ..?
.
Con đường xa tích tấp và bụi đỏ... Nhưng dòng suy nghĩ cứ tràn về miên man. Giữa vui buồn đó trong tâm tưởng, chẳng biết cái nào đúng... cái nào sai và, cái nào nên vui, cái nào nên buồn. Vì chừng như, chúng là một thứ gì đó vừa xa xỉ và vừa vụt mất.
Tôi không biết bắt đầu từ đâu... Suy nghĩ về ký ức chập chờn. Dường như, tù đày làm cho con người ta chậm dần lại... Mòn mỏi thêm... Và cảm xúc dần dần bị liệt trong mọi sự, để những nỗi niềm và sự thất bại lên ngôi. Chợt tôi nhớ đến em. Thật ra cuộc tình giữa tôi và em cũng giống như bao cuộc tình khác... thoáng qua đời tôi, nhưng sao trong lúc này, em lại về? Có chăng chỉ là cái gì đó thiết tha đến tàn nhẫn, và đến giờ này anh vẫn chưa kịp nhận ra. Tôi nhũ thầm là vậy, và thì thầm độc thoại:
     - Anh xin lỗi... Anh xin lỗi.
Nhớ những ngày thơ ấu ấy... Mẹ dẫn tôi đi ra trung tâm Sài Gòn... Phố phường đông đúc nhộn nhịp. Thấy gì tôi cũng nhìn, không rời và, thấy gì cũng hỏi... Nhưng đâu biết những gì tôi hỏi và đòi làm mẹ chạnh lòng... Tôi chỉ còn nhớ mờ nhạt trong ký ức, mẹ nói:
       - Giá như giờ có ba bên cạnh, thì tất cả những gì con thích, sẽ được ba mua cho. Nhưng giờ ba...
Mẹ tôi bỏ lững câu nói ấy. Trong tâm trí trẻ thơ, tôi không hình dung nỗi những gì đang xẩy ra giữa đời này, cho đến mãi về sau.
Bố tôi một người tù chính trị... Ông ôm ấp lý tưởng và chiến đấu cho lý tưởng, cho nhục vinh đến phút cuối cùng... Ông thất bại nhưng đoan chắc rằng: trong trái tim ông đầy kiêu hãnh. Ông đã không còn đứng vững trên chính sự kiêu hãnh ấy vào một ngày đen  lịch sử... Chiếc áo tù và thân một gả tù biệt xứ cho đến ngày hung tin đưa đến. Gia đình tôi đón nhận bàng hoàng... Ông ra đi và chẳng bao giờ trở  về nhà lần nữa.
.
Thời gian rồi cũng qua, cũng sẽ quên... Quên cho có còn cái nhớ... Mẹ già trông thấy mỗi ngày.. Bằng mọi cách mưu sinh.. Dậm trường. Những niềm đau, những giọt nước mắt và ngay cảnh những sự dầy vò thân xác từ những tác nhân bên ngoài đưa đến cho bà, chỉ cốt sao cho có được miếng ăn cho tôi.
.
Và... Một đứa trẻ cũng dần lớn lên theo năm tháng, nó cũng đã nhận biết sự tráo trở và tàn nhẫn của cuộc đời ban cho.
Tôi bước vào đời, với những suy nghĩ và nỗi niềm trắc ẩn trong lòng...nói thật, tôi tập làm quen với những nỗi đau và sự tàn nhẫn. Tôi vui khi làm người khác đau và hận thù khi người khác làm ta đau... Trong cái vòng lẫn quẩn ấy... Sự đời càng lúc càng lớn hơn, và khốc liệt hơn.
Cũng đôi lần ngồi lại nghĩ:-Con à sống phải yêu thương, và phải tạo phước. Mẹ ê a những bài học nhân bản ấy... Tôi chán và cáu gắt... Nước mắt của người phụ nữ vĩ đại ấy, lăn dài xuống đôi má gầy gò tùy tụy năm tháng...
Tôi giữa cuộc đời đầy bão giống... Người ta gáng cho tôi một mỹ từ nghe ê chề và đau đớn, nhưng sự thật vẫn luôn tồn tại, cho dù bạn có muốn hay không... Thằng du đãng!
Và nước mắt mẹ tôi cứ trôi dài, mỗi khi nghe "Mỹ từ" đó từ ai gửi gắm đến tôi.
.....................
Một ngày, tôi lội xuống miền sông nước đòi nợ thuê cho một chủ ghe.. Họ nợ nần gì nhau đó tôi không quan tâm, nhưng cứ theo luật người thuê thì ta làm... Vấn đề chỉ là tiền, cho dù kết quả có ra sao. Và thậm chí đem nhân tính của ta ra đánh đổi lấy những đồng tiền lẽ giữa cuộc chơi điên đảo ấy. Tôi cùng đàn em đến nơi cần đến. Nhà ông Sáu K...bên trong mái tranh xiêu vẹo ấy, một người đàn ông đen đúa, nghèo khó, gầy còm bước ra. Ông hỏi:
        - Các chú tìm ai?
Tôi lạnh lùng: - Ông là ông Sáu K? Nói gọn... Tôi đến đây lấy nợ cho chủ ghe và tôi biết ông vừa bán trâu có tiền... Ông trả cho chúng tôi. Nếu không ông đừng trách.
        - Mấy chú thương. Tiền này tui để dành đưa thằng con lên thành phố học đại học. Còn chuyện nợ với chủ ghe, các chú để từ từ tui thu xếp.
Tôi lạnh lùng bước vào trong và cướp số tiền trên tay ông Sáu K. Tiếng khóc của thằng con trai mười tám tuổi con ông bất lực trước sự hung hãn của tôi, và tiếng vang xin lạy lục từ người đàn ông lam lũ và đau khổ ấy. Tôi không quan tâm đến điều đó. Điều tôi cần ở đây là tiền. Tôi bất chấp. Tiếng kêu ai oán đã đọng đến tai hàng xóm của một vùng quê... Những con người chân chất đến mỗi lúc mỗi đông và những người thanh niên nông dân ấy, đã đẩy tôi vào lối cụt. Và họ đã đánh thức sự bất nhân của một con quỷ trong lòng tôi thức dậy. Với bản tính lỳ lợm và tàn nhẫn cộng thêm những ngón nghề mà tôi đã được các anh chị giang hồ dạy trong những cuộc thư hùng, tôi đã đổ hết tất cả lên trên đầu của những người thanh niên ấy. Tôi làm họ bị thương rất nhiều, và cũng chính ngày định mệnh ấy.. Án tù tôi dài lê thê.
.
Nhớ ngày tòa tuyên án tôi 22 năm không ân xá, mẹ tôi đã lặng lẽ gụt xuống sàn tòa án. Bà ngất đi. Tôi vẫn dững dưng lạnh lùng. Từ đó tôi rơi vào trạng thái câm lặng... Câm lặng đến đáng sợ!
Thời gian đi, mãi đến hơn hai năm sau tôi mới được thăm nuôi. Tôi nhớ ngày đầu gặp mẹ... Vẫn khuôn mặt ấy, giờ tiều tụy hơn, khắc khổ hơn, già hơn, và buồn hơn... Những giọt nước mắt vẫn cứ trôi. Tôi nhìn mẹ... Tóc bà đã bạc gần hết đầu. Chừng như, tôi đã chất chồng những tội lỗi của chính tôi, lên trên từng sợi tóc phai của mẹ. Và tôi lặng lẽ, ân hận!
.
Nhưng năm tháng êm đềm trôi của một thằng tù... Cũng như thường lệ, mẹ tôi cụ bị vào thăm. Lưng mẹ hôm nay còng xuống, đôi mắt đẹp ngày xưa, có thời đã làm bao nhiêu kẻ điêu đúng, giờ mờ đục đọng lệ. Nó làm cho tôi rây rức lớn thêm trong lòng... Tôi một thằng vô luân giữa đời này, một thằng con đại bất hiếu...
Khi mẹ tôi chuẩn bị về...cũng buổi chiều, trời tắt nắng...
     Tôi nói:- Mẹ! Về sau không cần thăm con đều nữa làm chi. Giờ con cũng ổn rồi, và trong này anh em cũng thương, nên không đến nỗi đói khác gì. Bà giờ già rồi nuôi con nữa làm chi, để sức nghĩ ngơi cho đến khi con về héng, bà già.
Mẹ tôi vẫn lặng lẽ nghe từng lời của tôi: - Mày mà nên người là tao yên tâm rồi. Sau này có nhắm mắt cũng mong mày thành nhân... Sống tử tế hơn nghen con... Nhìn mày, tao ngán!
Và những suy nghĩ cứ miên man tìm về đang xen...
Câu chuyện ông Sáu K bán trâu... Sau này tôi có về lại hỏi thăm và mong gặp ông cùng cậu con trai nhỏ của ông ngày nào để tạ lỗi, nhưng hỏi thăm người ta bảo ông chết sau vụ bị đòi nợ đó vài năm, vì uất nghẹn.
Câu chuyện của ông Sáu K buồn không tưởng... Nó càng buồn bao nhiêu, tội lỗi của tôi càng lớn bấy nhiêu... Tôi không thể tha thứ cho mình dù đã nguôi ngoai.
.
Ngày hay tin con trai đậu đại học và đây cũng là lần đầu tiên trong dòng họ nhà ông có một người đổ đạt. Nói thật với hoàn cảnh kinh tế của gia đình ông, thì cho một đứa con học đại học ở một thành phố lớn và đắt đỏ như Sài Gòn là chuyện khó, nhưng ông đã quyết định và sẽ bán những gì quý nhất ông có được để thằng con có tương lai tươi sáng và làm nở mặt, nở mày dòng họ. Ông quyết định bán hai con trâu đã cùng ông sớm hôm cày cấy... Chúng không phải là hai con vật như những con vật khác được nuôi trong nhà hay một loại tài sản nào đó. Có thể nói chúng như những thành viên buồn vui cơ khổ trong một gia đình khốn khó, và chúng giống như những người ân.
.
Khi người lái trâu đến mang trâu đi, đưa tiền mua bán. Ông Sáu K đã quỳ trước hai vật và lạy chúng... Nước mắt ông dàng dụa... Những cái lạy của lòng biết ơn và mong được hai con trâu thứ tội, nhưng những điều ấy đã bị tôi cướp đi đến lạnh  lùng. Khi nghe kể đến đó, tôi đau đớn không thể diễn tả được. Giá như tội ấy tôi đền được, thì cách gì tôi cũng sẽ... Rồi tương lai của cậu học trò kia ra sao... Đen tối hay sẽ tệ hại giống tôi.. Không biết nữa!? Tôi không còn đủ sức nghe thêm câu chuyện của mình:- Tôi thì thầm... Cậu bé ơi! anh xin lỗi... Bác Sáu K ơi! Con xin lỗi!
.
Trở lại chuyện mẹ tôi: những thỏi nước mắm mặn được làm từ bánh mì sấy khô kho chung với nước mấm và ớt thiệt cay cho đến đặc quánh, xong đóng gói vuông vuông mang đi thăm chồng... rồi đến thăm con. Nước mấm mặn đắng, để được lâu. Bánh mì sấy thì béo và có tinh bột. Đường thì ngọt, và ớt thì cay chống được bệnh vặt nơi rừng thiên nước độc.
Tôi hay nói... Trong thỏi nước mấm kho của mẹ tôi, có đủ cay đắng ngọt bùi của cuộc đời. Và đó là sự thật.
.
Sau cái hôm mẹ tôi lên thăm tôi lần đó... vào những tháng cho thăm nuôi kế tiếp, dù tôi đã nói mẹ đừng thăm con nữa, con ổn rồi, nhưng tôi vẫn trông mẹ và hình bóng bà vẫn biệt tâm hơi, cho đến ngày tôi được mãn hạn tù.
...................
       - Hôm nay giỗ má mày ơi! Người hàng xóm tốt bụng của gia đình nhắc tôi. Bà sợ tôi quên mẹ lần nữa
        - Dạ chị. Em nhớ. Chút chạy chợ mua bông trái cúng mẹ.
Tôi tự tay xuống bếp làm cái món nước mấm thỏi dâng lên bàn thờ cúng mẹ... Khói hương nhạt nhòa.. Vị nước mấm mặn - cay - ngọt... Trôi trên môi tôi nghe mặn đắng trên mi của một người từng trải, và tôi nghe cay xé lòng.
Mẹ!

Sắc Không

SẮC! KHÔNG...
Khôi Hạo.
***
Bóng chiều đổ xuống phía bên kia ngọn núi, những cánh rừng mờ mờ khói sương...buổi chiều tắt nắng sớm mặt trời đỏ ngây ngất say say rờn rợn. Cơn gió vẫn nhè nhẹ rít lên từng hơi thoang thoảng chút buồn buồn quạnh vắng. Bên kia dưới thung lũng ấy là chiếc hồ lớn như mặt gương soi. Nó đã tồn tại nơi đây bao nhiêu triệu năm rồi, chẳng ai biết được. Chiếc hồ nước lớn, già đến độ mặt nước nhăn đùa, dù chỉ một cơn gió gợn qua, hay một bóng chim bói cá khẽ chạm vào. Ẩn khuất sau đám cây đại thụ quần tụ và chằng chịt dây leo, như trói buộc tất cả mọi thứ của trời đất lại với nhau, làm cho cánh rừng đại thụ thêm tối tăm u tịch, và huyền bí hơn. Ngôi cổ tự nhỏ nằm im lìm dưới những tán cây đại thụ lớn vài người ôm...góc cây to đến không tưởng, nếu chưa nhìn thấy, ta sẽ không hình dung nổi. Chếch sang một bên, Đức Phật bình an ngồi trầm lắng, nhìn xuống mặt hồ tĩnh mịch phía đối diện. Khuông mặt nhìn xa xăm đựợm nét buồn...chúng sanh khổ, từ bi đến lạ thường. Trong sâu thẳm, ánh mắt trầm mặc, pha chút xót xa, chút vui mừng. Một cái nhìn thánh thiện không thể đo lường..." Chúng sanh vô biên thề nguyện độ...*" Có lẽ là như thế, chúng sanh mê muội, chìm nổi, đau khổ...không thoát ra được chính cái "Tôi" của mình và những dục vọng thấp hèn của đám phàm phu tục tử...đôi mắt nhìn...sự im lặng đến tận cùng ấy, ta tìm thấy những điều Ngài đã bỏ ra 49 năm để giảng giải cho chúng sanh của thập phương thế giới, sự cứu cánh niết bàn, sự liễu thoát sanh tử, liễu phàm nhập thánh...nhưng, nhưng mấy ai tin vào điều đó, và cuối cùng: " Đất tam thiên đại thiên thế giới vẫn nhiều hơn, đất trong móng tay"* Sự liễu ngộ...cũng chẳng khác gì, đất trong móng tay!
***
Buổi chiều xuống thấp, gió thổi mạnh hơn, mọi thứ như đông đặc lại, mặt hồ nhăn, lăng tăng những đợt sóng đùa nhau lớp lớp...buồn thê lương, nhưng thanh thoát đến không cùng. Trên những bậc thang bước đến chánh điện, được xếp bằng những phiến đá lớn, ước chừng sức người có cố gắng đến tàn kiệt, cũng không thể lây nổi, nhưng tất cả đã được xếp lại thành những tam cấp cao chót vót, đến bất ngờ và lạ lùng.
***
Chênh vênh giữa bờ vực sáng tối, người đàn ông lặng lẽ cột con ngựa vào góc cây sau lưng  tượng Đức Phật. Rồi chậm rải trong sự mệt mỏi đến cùng cực, tựa hồ đó là chút sức lực cuối cùng của chiến binh thất trận, vừa thoát khỏi xa trường, qua bờ sống chết. Ông mệt mỏi chống cây đại đao bên cạnh dưới chiếc bệ đá, Đức Phật đang an vị. Con ngựa, người đàn ông, thanh đại đao...tất cả đã kiệt sức. Con ngựa quỳ hai chân trước xuống, như muốn nguyện cầu với Đức Phật điều gì,  chẳng ai biết...và thanh đại đao cũng tuột dài xuống đất, vướng lại cành dây leo, tạo thành tiếng động tĩnh tịch, bất thường. Không ai hiểu sau cuộc chiến tàn, là gì và tất cả muốn điều gì. Mọi thứ rơi vào im lặng, có lẽ chỉ có Đức Phật mới hiểu...chúng sanh đau khổ thế nào, và chúng u mê đến thế nào...." Nước mắt chúng sanh nhiều hơn bốn bể".
***
Người đàn ông bước lên những tam cấp, hướng bước chân đến ngôi cổ tự nằm khuất sau rạng đại thụ già nua, thách thức thời gian. Mệt mỏi vây kín, những vẫn toát ra được khí phách anh dũng hiên ngang của một người hùng, dù rằng vẫn biết người đàn ông ấy, là danh tướng thất trận, chạy về trú ẩn nơi đây. Những bước chân nặng nề, lê từng bước...từng bước một, với chiến bào rách nát trên thân thể đã tàn hơi kiệt sức, thời gian trôi qua cũng nặng nề, như những bước chân. Chừng như, cuộc đời vốn của nó là thế. Danh tướng bước đến bên thềm cửa chánh điện. Tất cả đã mờ mịt tối, chỉ có chút ánh sánh mờ mờ từ trong, le lói chiếu đến nơi ông ta. Bên trên lão Trượng bước đến nhìn đối diện vào gương mặt tiều tuỵ của ông ta, rất lâu...rất lâu. Không ai nói với ai điều gì, chỉ có ánh mắt nhìn nhau, trong sâu thẳm những nỗi niềm khuất lắp.
        - Con muốn xuất gia! Tướng quân mệt mỏi nói.
        - Ngài ân hận hay sân hận? Lão Trượng chậm rãi từng từ một.
        - Bạch thầy, cả hai... Danh tướng ngập ngừng. Lão Trượng im lặng rất lâu, rồi đưa tay chỉ về phia chiếc hồ lớn dưới chân núi.
        - Nước nơi ấy trong và mát. Trà ta đã pha chờ Ngài từ rất lâu...
Danh tướng cúi đầu đi về phía chiếc hồ. Gió vẫn miên man thôi se se lạnh trên từng phân da thịt.
Nước vẫn êm đềm. Người đàn ông cúi xuống, soi bóng mình trong bức tranh mờ ảo, dưới ánh trăng sơ huyền...chừng như, đó là tiền kiếp của chính tôi...nó hiện về thì thầm như gọi tên. Tôi chợt nhận ra nó. Và thì thầm, như sợ tất cả mọi thứ nghe thấy những điều tôi sẽ nói...Ngươi đến tìm ta?
       - Ta tìm mi từ vô thuỷ kiếp đến nay, ngươi thay đổi quá. Thay đổi đến ta không nhận ra...ngươi là vô lượng hình hài, và hôm nay...tiền thân thì thầm trong tâm tưởng của chính thằng tôi. Rồi nó vụt biến mất, chỉ còn lại thời gian trôi và không gian tĩnh mịch đến tê lạnh thất thần.
Chiến bào rách nát đã cởi bỏ, thanh đao vấy máu kẻ thù đã tẩy rữa, con ngựa đã tắm sạch...yên cương đã tháo ra. Tôi nói với người anh em ấy, bằng hai dòng nước mắt lớn:
       - Chú đi đi. Nợ nước chú đã trả xong...nợ đời chú cũng đã trả xong...nợ chính mình, nhưng thôi...còn ta, ta chẳng làm nổi lấy một điều, dù là nhỏ nhặt như một hạt vi trần. Cho đến hôm nay, như chú thấy...ta đã chết từ trong tự tâm, và hôm nay mong tìm lại chính mình một lần nữa.
Chiến bào, thanh đại đao và yên cương được chính tôi chôn xuống góc cây nơi bờ hồ. Tôi cố kéo phiến đá lớn đè lên ngôi mộ...của chiến bào, thanh đại đao và yên cương. Tất cả đã xong..tôi khắc lên tấm bia của đời mình hai chữ lớn- CHÍNH DANH! Tôi đứng trước mộ mình rất lâu, ngấm soi và thoáng nghĩ: Chính Danh...hư danh một ngày, và ý chừng chính danh hay hư danh ấy, đã theo tôi...trôi vào hư sử! Ánh mắt trên khuôn mặt từ bi bí ẩn của Đức Phật, vẫn nhìn tôi thật xa xăm!
***
Chiến mã được trả lại sự bình yên và tự do. Riêng tôi trên mình đầy những thương tích...thật buồn đến nực cười, đau đớn tột cùng. Nợ nước...nợ dân tộc. Mọi thứ có được trong đời này được gầy dựng bằng xương máu của kẻ thù, và cả của anh em...tất cả là phi lý và vô nghĩa, nhân danh cho một thứ quái quỷ gì đó. Và hôm nay còn lại, không phải là những vết thương đang bật máu trên thân thể giả tạm của tôi, mà chính vết thương trong tận cùng tâm khảm, và tâm hồn tôi. Chiến trận im bặt thinh không. Không một tiếng kêu rên. Không một bóng ma nào còn ở đó. Tất cả đã chết theo gió đưa đi, ngay cả linh hồn tôi và ngay cả sự vĩnh hằng của bóng tối!
***
Thời gian qua vội! Buổi chiều, sau buổi công phu cùng bài kinh đầu đời cho tôi...tiếng mỏ trầm đục vọng vào tận cùng tâm khảm mờ xoá dấu kỷ niệm. Tiếng đại hồng chung vọng lên vang vang, xé tan không gian tĩnh lặng đến không tưởng, trong mỗi tâm thức của một chúng sanh. Và tiếng cầu kinh vọng vào lòng như thức tỉnh...đều đều: " Sắc bất dị không...không bất dị sắc. Sắc tức thị không...không tức thị sắc..."*. Chiều rơi đều đều trong tiếng pháp khí, quyện vào tiếng niệm thánh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật của Lão Trượng buồn buồn thoát thay, bình yên đến lạ kỳ! Tôi bước ra ngoài thềm cửa nhà Phật trong lòng trống trải...im lặng lắng nghe tất cả âm thanh trong chiều chìm xuống. Tiếng chú tiểu trong trẻo tụng bài kinh đầu đời bằng chính cái tâm trong sáng không chút động gợn của nỗi niềm, âm thanh đều đặng vang xa, mờ khuất. Cũng chính tôi trong lòng đầy ắp những phiền não của cuộc đời, trên chính dòng kinh ấy. Tôi và chú tiểu, một phận người nhưng hai định mệnh. Chúng tôi gặp nhau một chổ trong chính nhân duyên thù thắng này. Tôi nghe tiếng lòng trống trải, nhưng bình an đến lạ thường. Chiến binh ngày hôm qua đã chết, chiến bào rách nát, thanh đại đao đã cùn lụt, chiến mã cũng đã ra đi. Còn lại tôi và những vết thương ngày tháng bình an sám hối!
***
A Di Đà Phật!
***
Tôi nhìn về phía xa chân trời. Bóng con hạc trắng bay về phía Tây. Chiều nơi đây không rộn ràng những âm thanh binh lửa. Tất cả im bặt, lặng lẽ...âm thanh cảm thông, bình an, thiêng liêng, thanh thản đến kỳ lạ! Và tôi chợt nhận ra rằng: Mọi thứ trong đời này tất cả chỉ là: "KHÔNG".
***
Khôi Hạo.
08/08/2016.
* Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ( Tứ đại thề nguyện của Đức Thích Ca Mô Ni Phật)
*Bát Nhã Tâm Kinh.
* Nước mắt chúng sanh nhiều hơn bốn bể.(Bổn Sư Thích Ca Mô Ni Phật)

Tuesday, April 2, 2019

Bến sông

BẾN SÔNG
Khôi Hạo.
***

Buổi chiều đi, con nước lớn. Tiếng bìm bịp kêu, làm tôi nhớ... " Bìm bịp kêu nước lớn ai ơi...buôn bán không lời chèo chống mỏi mê...". Và tiếng mẹ ru ngày nào vẫn còn đâu đó văng vẳng trong tâm thức. Chuyện trăm năm kể hoài không hết! Chuyện đời!
Ông lái đò ngày ấy giờ vẫn đứng đấy đợi khách sang sông.
         Những khúc quanh, dòng sông cứ trôi. Nước lớn, nước ròng...lục bình chìm nổi, phận người dài năm tháng! Ta nghe tiếng kêu thất thanh của những loài chim lạ,nhớn nhác gọi nhau...chiều lạc bầy. Và tiếng gió buồn ngây ngây thổi rờn rờn trên bến sông nhăn đùa mặt nước. Con nước vẫn lên xuống ngày hai buổi, tựa hồ tiếng cầu kinh lớn, của càn khôn thái hư vũ trụ. Êm đềm, huyền hoặc, khó hiểu, thanh thoát đến lạ thường. Và chừng như dòng sông vẫn vô tình chảy, nước về hai bên bờ bãi hỗn mang nặng tình bên lỡ bên bồi, làm tôi chợt nhớ đến những điều chừng như vô thực, nhưng rất thật: hạnh phúc của người này, là niềm đau của kẻ khác...hay đại loại như là, nụ cười của kẻ này...là nước mắt của ngừơi khác chăng...thật vô vị cho đến tê điếng lòng. Những chiều nhìn con nước chảy siết băng băng qua những bờ bãi, ta liên tưởng đến cuộc đời chìm nổi của ta. Một thời nổi trôi trầm bõng, lên xuống...thăng trầm và cuối cùng ta lặng lẽ đứng nuối tiếc chiều nay...thời gian dài vô tích sự! Như con ve bắt đầu từ thứ "thấp sanh" trong lòng đất, rồi vương mình thành loài sâu trầm ẩn dưới lòng đất đến hàng chục năm dài đăng đẳng...thoát xác, hát nghêu ngao vài mươi tiếng, và chết trong sự vui thú của chính tiếng hát ấy..vô nghĩa đến hờ hững, kiếp con người...một đời trôi qua mấy mươi năm, ta cầm nắm...dành giật mọi thứ về mình, bởi sự tham lam vô độ, và cũng sẽ tàn úa đau khổ, trơ trụ như xác ve kia ấy thôi. Tội nghiệp chính thằng tôi khờ khạo, cứ ngỡ ta là thứ siêu việt vượt qua mọi rào cảng...thành trì bởi, trí tuệ lớn mà ta mang nặng trong bộ nảo nhỏ nhoi, của một thứ động vật...được mệnh danh: cấp cao. Và ta vẽ cho mình vô số những điều, mà chính ta không hiểu nỗi. Ta bị xô đi bởi cuộc đời này, khi ta hiện hữu như cánh lục bình trôi dạt về chốn nào? Chính ta không rõ, dù chỉ là một dòng chảy nhỏ trong tận cùng tâm khảm.
Ông lái đò vẫn đứng đó như nhân chứng của cuộc tồn sinh dị biến. Mái chèo khua nước, đánh động giấc ngủ chập chờn trong tiềm thức. Đưa, đón...mọi thứ diễn ra nhanh như tia chớp, loé sáng như ngọn pháo bông... lung linh rực rỡ, rồi lịm tắt, trong hôn mê tối. Nước vẫn chảy...bờ sông vẫn bình yên trong từng tiếng gọi. Mặt nước êm, nhưng chỉ cần viên đá vô tri ném khẽ cũng đủ để sự bình yên ấy vỡ động. Thật buồn cười cho người...cho ta, những màn kịch bi hài diễn như một trò chơi bần tiện, kéo nhau đến tiền sảnh vinh quang nhân danh thất bại thảm hại...giữa ánh sáng rạng ngời.
          Hề! Một đời trôi qua như con nước thuỷ triều lên xuống đến ngẩn ngơ và kết thúc trong lo toang buồn tủi...bất cam, nhưng tất cả chỉ là trò đùa của cái quy luật bất biến: " Sanh - Lão - Bệnh - Tử"... hay " Thành-Trụ-Hoại-Không" hay " Sanh-Trụ-Dị-Diệt" có cố gắng hết sức cũng chỉ thoáng qua, như tiếng cười xé tan hư không tĩnh mịch, và tất cả phải trả lại nguyên vị trí ấy...bất biến! Và ta vẫn đâu đấu lặng ngắm bóng mình vừa đánh rơi với đầy đủ hình hài, nhưng nó méo mó, như ảo ảnh tàn tật đến rợn người, như một loại cổ sinh vật dị lạ, chưa bao giờ tồn tại.
Ông lão chèo đò năm tháng, đã cố gắng hết sức lực, trong cơn tàn kiệt hấp hối...đếm cho hết những mái cheo đã khua trên dòng sông của đời mình. Và gắng gượng nhớ từng khuôn mặt khách sang sông, như con dã tràng cố đếm hết những hạt cát ở bãi bờ, nó đang sống...thật buồn cười và thật vô ích, nhưng ta có khác chi đâu; ông lái đò ấy và con dã tràng kia. Rồi một ngày, ta nuối tiếc cuộc tồn sinh và cúi mặt bước đi trong sự chấp nhận bất cam, của kiếp nhân sinh. Ông lái đò, con dã tràng, em và ta...nhân loại, và cả cỏ cây, sông núi...đại địa, rong rêu, đều chết một ngày! Hề dòng nước cứ trôi hoài trong lặng lẽ! Thời gian bất tận, tất cả chỉ là giả tạm vô thường! Một thời...một đời...một bến sông? Một xác ve...

Monday, April 1, 2019

VÕ PHIẾN VIẾT VỀ TÔ THÙY YÊN

(copy từ trang nhà Thảo An Nguyễn Thị)
-----

Trước, một thi sĩ Nam (là Kiên Giang) có giọng thơ giống một thi sĩ Bắc (là Nguyễn Bính). Sau đó, Tô Thùy Yên là thi sĩ Nam có giọng Bắc. Ông không giống ai, không giống người Bắc nào; ông bắt kịp cái điêu luyện của ngôn ngữ Bắc, thế thôi.

Kiên Giang giống Nguyễn Bính chỉ giống Nguyễn Bính tiền chiến, Nguyễn Bính “Lỡ bước sang ngang”, Nguyễn Bính của những tâm hồn mộc mạc, đơn sơ: cái đó dễ, vì là sở trường của miền Nam. Trái lại, Tô Thùy Yên bắt ngay vào cái sở trường của miền Bắc. Ông tinh vi, cô đọng, trau chuốt đâu kém ai.

Nói “bắt kịp”, nói thế e có thể gây một sự hiểu lầm, rằng có sự hơn thua giữa Bắc Nam. — Không phải vậy. Giá trị của nghệ thuật đâu phải ở chỗ tinh vi trau chuốt mà thôi? Trau chuốt có cái đẹp của trau chuốt; sù sì gân guốc có cái đẹp của gân guốc. Chẳng qua là những phong cách khác nhau, những vẻ đẹp khác nhau. Không hơn không kém, nhưng tinh tế là đặc trưng của một nền văn hóa cố cựu, của thời gian. Và thời gian cho thêm cái này thì cũng thu bớt cái kia: người sống nhiều, lịch duyệt nhiều, tất khéo léo tinh tế thêm; đồng thời lại sinh ngại ngùng, cầu an, mất cái quả quyết, cái tích cực của tuổi trẻ.

Lâm Ngữ Đường cho rằng ở nước ông người miền nam viết hay vẽ giỏi, tài tình rất mực; trái lại người miền bắc cao lớn, dũng mãnh, oai hùng. Người Hoa Nam làm văn nghệ thì hoa mỹ tuyệt vời; người Hoa Bắc không theo kịp đâu, người Hoa Bắc chỉ giỏi làm... vua thôi: hầu hết những kẻ đánh đông dẹp bắc, những bậc khai sáng các triều đại vua chúa hơn hai nghìn năm lịch sử Trung Hoa đều ra đời ở miền Bắc. Nói cho cụ thể hơn là ra đời tại một vùng xung quanh thiết lộ Lũng Hải, tức cái vùng bao gồm các khu vực đông Hà Nam, nam Hà Bắc, tây Sơn Đông và bắc An Huy. Trung quốc văn minh lâu đời, vì thế con người sinh ra bạc nhược. Người văn minh thoát lần khỏi áp lực của thiên nhiên, rút về chỗ đô thị đông đảo và nhiều tiện nghi, họ trau dồi giao tế, nói năng hay ho, và ngại xông pha, ngại dùng sức. Con người văn minh, vì thế, về phương diện đấu tranh, đâm ra hỏng. Nhiều nền văn minh trên thế giới đã sụp đổ do cái hỏng ấy. Trung Quốc lẽ ra cũng thế: thỉnh thoảng lại bị các “rợ” miền bắc xông vào đánh cho tơi bời, có khi đè đầu cai trị một thời gian dài (nhà Nguyên, nhà Thanh). Nhưng cũng chính nhờ các cuộc xâm lăng ấy mà Trung quốc không sụp đổ: các dân tộc xâm lăng kéo vào đã tiếp một nguồn sinh lực mới mẻ cho dân tộc Trung Hoa, đặc biệt là dân Hoa Bắc. Đại khái cứ mỗi chu kỳ tám trăm năm cuộc tiếp máu diễn ra một lần, và dân tộc Trung Hoa được trẻ lại từ phía bắc.

Chúng ta, ở Việt Nam, chúng ta trẻ lại từ phương nam. Từ ngót nghìn năm nay chúng ta tiến dần vào nam, lần lượt sống và kết hợp với các giống dân Chàm, Chân Lạp, v.v... Cuộc nam tiến không phải chỉ mở rộng biên cương, tăng gia tài nguyên, mà còn làm cho dân tộc dồi dào thêm sinh lực.

Quả nhiên tôi đã quá dài dòng, cơ hồ lạc đề. Khổ thân tôi! Không nói thì ngại hiểu lầm, mà dông dài thì e vớ vẩn; nói ra nghe như vớ vẩn, mà không nói ra lại cứ lo mình bỏ qua một điều quan trọng: là giọng thơ Tô Thùy Yên. Cái giọng Bắc của ông, đọc qua thấy ngay. Cái giọng Bắc ấy ở một thi sĩ Nam không phải đã nêu lên một đặc điểm quí báu sao? Ông tiếp nhận cái dũng mãnh của miền này, lại thừa hưởng cái trau luyện của miền kia. Nhất ông!

Và Tô Thùy Yên không phải chỉ bắc có cái giọng. Hình như ông còn gần gũi miền Bắc tận trong tâm hồn. Dù sao, đây là lần đầu tiên chúng ta gặp những thắc mắc siêu hình trong thi ca một người sinh trưởng trong Nam.

Bảo rằng trong thơ Tô Thùy Yên có chủ đề triết lý, bảo thế e chưa thích hợp. Gần như toàn bộ sự nghiệp thi ca của ông là một dấu hỏi khổng lồ nêu lên trước cái bí ẩn muôn đời của vũ trụ. Bí ẩn đó là ám ảnh chủ yếu của đời ông. Ngoài ra có gì nữa đâu? — Ái tình chăng? Hiếm lắm; ông cách xa sự đắm đuối nhiều lắm. — Ca ngợi thiên nhiên chăng? Ít lắm; thơ ông không phải thơ ngâm hoa vịnh nguyệt. — Kêu gọi yêu nước, phát huy lý tưởng, cổ xúy tín ngưỡng chăng? Ồ không; ông ngờ vực tất cả trên đời. — Tự dưng cất tiếng hát cho đời vui chăng? Đừng hòng! Ông không phải con chim ngứa cổ...

Có lần ông viết về “đãng tử” — Gã đãng tử nào vậy cà? Có phải cái chàng trai nọ có khiếu giang hồ thường ngược xuôi trên con đường xe lửa xuyên Việt, thỉnh thoảng cho tay vào mũi ngoáy mấy cái để rút ra một thỏi mực tàu đấy không? Có phải anh chàng lang thang ngoài sương gió kia, vẫn lênh đênh trên các con đò với đám ca kỹ, nốc tì tì và kêu rằng giang hồ rượu ấy còn pha lệ này lệ nọ không? Có phải gã du khách lang bạt kỳ hồ thiếu cả quê hương, thời thường xách chiếc va-li mà các hãng hàng không quốc tế, các khách sạn, các hãng tàu đã dán chằng chịt những nhãn giấy xanh giấy đỏ, gã du khách đã đặt chân lên gần khắp các nước trên hoàn cầu đấy không nhỉ?

— Hầy! Nhảm. Nhảm quá. Tô Thùy Yên không lý đến hạng lãng tử ấy, dù họ đi trong nước hay ngoài nước, đi vòng quanh quả đất bao nhiêu chuyến cũng mặc. Đãng tử — cũng như góa phụ, như chim biển bắc — của ông chẳng qua là biểu tượng. Cuộc đi ông nói đây là cuộc đi trong kiếp nhân sinh mờ mịt, không bến bờ không định hướng, cuộc đi bắt đầu từ vạn cổ mà rồi không bao giờ kết thúc, là cuộc “tuần du bất tận”. Sự sống giục giã: gió thổi, chim bay, mây xôn xao, thủy triều sôi réo... Phải lên đường chứ. Nhưng lên đường về đâu?

"Đến ngả ba, đành theo một lối
Tiếc ngẩn không cùng theo lối kia
(Đãng tử)

Ôi, thân phận người đãng tử của Tô Thùy Yên.

Có lần khác ông viết về mối tình ngày nhỏ: ‘Vườn hạ’. — Tình xưa, kìa, có phải như Tố với Hoàng một đời thiết tha? hoặc giả có phải thân nhau từ thuở bé thơ như Mùi của Siêu chăng? Vậy thì mùi mẫn biết mấy!

— Hừm. Đâu có. Làm gì có sự mùi mẫn đối với một người tình không chân dung? Ở đây không có dáng hình kiều diễm nào. Không mặt mũi vóc dáng, không tên tuổi, không có cả một màu áo. Không ai trông thấy giai nhân đâu, ở đây chỉ gặp một nhân vật tàn nhẫn mang tên là Thời Gian.

Phải. Cái yêu lúc này không là chủ yếu, vì ông đang suy tưởng buồn rầu về chuyện “mai kia mốt nọ”. Khiếp, cái mai mốt nghĩ mà kinh. Mai mốt anh về:

"Hỏi em, em lấy chồng xa xứ
Hỏi bạn, bạn lìa quê bặt tin.”

Không còn bạn, không còn tình, ông chiêu hồn tuổi dại, ông lay gọi:

"Thơ ấu, dậy đi, mừng dụi mắt
Cùng anh chạy nhảy tiếp thời vui.”

Thời vui, anh với em đá gà bằng cỏ xướt, đùa giỡn la rân dưới mưa, lăn vòng, đá bong bóng nước v.v. Nhưng mai mốt không ai còn có thể chạy nhảy tiếp một thời vui. Không ai tiếp được cái gì nữa cả. Thời gian xóa hết. Cái chân dung nghìn mặt của Thời Gian có những nét đáng hãi:

"Trời cao mỏi mắt, chòm mây bạc
Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh
Ngoài quãng chói chang hư ảo múa
Dường như ai réo ấu danh anh (...)

(...) Nằm đây phủ sáng hằng hà sao
Nghe thủy triều lui bậc bậc sầu
Nghe tiếng mõ chùa khô khốc khóc
U minh ngày tháng bóng lao đao (...)

(...) Cây cỗi càng sưng vết chặt lồi
Chờ nhau cho đáng kiếp chờ thôi
Tuổi già gom lại bao thương tưởng
Như cuối vườn chiều mót củi rơi.”
(Vườn hạ)

Giữa cái vui hôm nay với cái buồn mai kia mốt nọ, sự thay đổi khiến ta liên tưởng đến cảnh Hồng lâu mộng. Mới ngày nào, một cậu bé trên mười tuổi giữa cái xôn xao của đám đông đảo hàng bốn trăm rưởi nhân vật, đa số là đàn bà con gái thơm tho xinh đẹp, nói cười ríu rít, quấn quít yêu thương. Rồi chẳng mấy chốc, xuân chưa qua hạ chưa đến, mà tan tác đã xảy ra. Giả Bảo Ngọc không kham nổi cái cảnh “vườn chiều mót củi rơi”, không kham nổi cảnh tan tác, đành trốn theo đạo sĩ đi mất dạng, đi tức tưởi, bỏ lại cõi trần nửa đứa con trong bụng Bảo Thoa. Hồng lâu mộng là cái “chạy nhảy” của “thời vui”. Nó chỉ gặp ‘Vườn hạ’ vào tan cuộc, vào lúc tan tác, lúc đạo sĩ xuất hiện, lúc Thời Gian cất tiếng.

Lại một lần khác, Tô Thùy Yên làm thơ về đảo Trường Sa. — Ờ ờ, ông đi nhiều mà. Gặp cảnh đẹp ông dừng chân hứng bút đề thơ, bốn câu ba vần, hay tám câu năm vần chứ gì?

— Nói vậy sai lắm, sai quá lắm. Đừng nói với ông làm chi chuyện đẹp với không đẹp, chuyện ngắm với nghía. Ông đến đây, trong lòng trong trí bận bao nhiêu cái khác. Ông thắc mắc hỏi han:

"Mùa đông bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han hề Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ.”

Ông tủi hổ về sự nhỏ nhoi của kiếp người; ông muốn cùng bể khơi cùng khóc:

"Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời.”
(Trường Sa hành)

Ở Trường Sa, cũng như ở phá Tam Giang, và có lẽ ở động Hương Tích, ở đỉnh đèo Ngang hay ở Động Đình hồ cũng thế thôi, ông không có thái độ thưởng ngoạn; thái độ ông vượt ra ngoài sự bận tâm về cái đẹp xấu:

"Chiều trên phá Tam giang
Có gã hề cuồng buông tiếng cười lạnh rợn
Khiến bầy ác thú mà lịch sử sanh cầm cũng chợt hãi hùng
Dớn dác ngó.”
(Chiều trên phá Tam Giang)

Ở Trường Sa, cũng như ở phá Tam Giang, và ngay những khi không đi đến đảo xa phá rộng nào cả, đến chốn đại dương mênh mông hay trước sóng to gió lớn nào cả, ngay một buổi sáng như mọi buổi sáng, ngồi trước ngôi nhà ở làng quê, ông cũng nghe được cái ít người nghe: cái cựa quậy của đất trời:

"Ta ngồi trước ngõ nghe xao động
Trời đất bào thai cựa cựa nhanh
Mầm cỏ nhoi nhoi lên rạo rực
Con chim chèo bẻo hót lanh chanh.”

Rồi đứng lên đi loanh quanh, gặp dăm ba người làng, ông cũng nói được cái ít người nói trong những dịp ấy: ý nghĩa đời người.

"Ta ngồi cho đến khi trời trắng
Đồng ruộng xanh đông đúc tiếng người
Ta rảo quanh làng hóng chuyện phiếm
Đời người cũng chuyện phiếm mà thôi.”

Và ngộ nhất là dẫu không làm gì cả: không đi không ngồi không nghe không nói gì cả, chỉ có hoặc nhìn một ngọn cỏ, hoặc chỉ thở, chỉ sống không thôi, ông vẫn có dịp đề cập đến tận vấn đề rốt ráo của nhân sinh:

"Gặp buổi trời mưa bay phới phới
Lá cành sáng rỡ sắc hồi xuân
Ta nhìn ngọn cỏ, lòng mê mẩn
Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân
Sống trên đời, chuyện ghê gớm quá
Vậy mà ta sống có kỳ không?
Nước mắt ta tuôn khi nghĩ tới
Những người đã chết, chết như rơm...”
(Hề, ta trở lại gian nhà cỏ)

Ông Tô Thùy Yên! Giá Thượng Đế mà biết được trong vô vàn chúng sinh có những đứa sống đầy ý thức như thế, không một phút giây nào không chăm chú từng hiện tượng lạ lùng của cuộc sống, không thấp thỏm ngạc nhiên, có đứa sống một cuộc sống đầy thao thức sáng tạo như thế, chắc Thượng Đế không khỏi thêm hãnh diện về công trình của mình, và chắc chắn Người... yêu ông biết chừng nào. Ít ra Người sẽ phải yêu ông hơn bao nhiêu đứa khác chỉ biết đớp hít, nhắm mắt hưởng thụ công trình Người, hay những đứa mải lo chen lấn đấm đá cắn xé nhau.

Nói Tô Thùy Yên dừng lại ở mỗi phút giây không phải là bảo ông nhỏ bé đâu. Trái lại. “Cây dừa ngất gió trùng điệp” gợi ông một “kiếp đau dài” (‘Trường Sa hành’); “gốc cây nứt nở vỏ” nói với ông “bao điều thầm lặng lớn” mà “trí ta không đủ lực đo lường” (‘Hề, ta trở lại gian nhà cỏ’); góa phụ khóc chồng, ông kêu “em khóc làm chi lẽ diệt sinh”’; tiếng con chó tru ông thấy “thăm thẳm ngây thiên địa”; gái góa tìm chồng không phải tìm trong vườn ngoài nội mà là... “chạy tìm anh ngoài cõi gió”... Tâm hồn ông tưởng chừng có kích thước vũ trụ. Ông từng bảo:

"Hoàng hôn xô bóng ta trên cát
Ta lớn lao và ta cô đơn.”
(Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai)

Tin ông đi, quả nhiên ông lớn lao. Ông là đấng Khổng Lồ, hàng ngày ra vào cửa sinh cửa tử, đàm đạo với khí Âm khí Dương, chuyện trò với cái Vô Cùng cái Bất Tận v.v... Trông cây dừa ông không chỉ thấy cây dừa, nhìn gốc cây ông không chỉ thấy gốc cây, nghe chó tru không chỉ nghe chó tru v.v. Những hình ảnh âm thanh nọ còn là những ký hiệu, để ông đọc cái nghĩa đời, ông đọc ra lời nói của Thượng Đế, đọc những tiết lộ về bí nhiệm của cuộc sống. Thơ ông là thế. Không sao? Thơ ông là thế, là triết đấy. Thơ ông là triết, nhưng ông không phải là triết gia. Theo cái nghĩa một đấng suy tư, theo cái hình ảnh một kẻ sói đầu, khắc khổ miệt mài. Nếu miễn cưỡng phải là triết gia, ông là thứ triết gia ràn rụa nước mắt, triết gia héo hắt tâm can. Ông không vắt óc nghĩ ra tư tưởng; ông cảm xúc triết lý, bằng tấm lòng, bằng ngũ quan. Cái triết này không tháp ngà tháp nghiếc gì. Không tháp, không đền, cũng không phải thành hình từ trong phòng, trong liêu, trong am, trong động, trong hang nào cả. Những câu hỏi của Tô Thùy Yên đặt ra là đặt giữa trời đất bao la, giữa bể khơi ầm ĩ, giữa phá rộng sông dài, đặt ở ngả ba sông, ở mép nước lao xao lính tráng một chiều dừng quân, đặt giữa súng ống ngổn ngang, thây người chồng chất v.v. Giữa dòng đời tấp nập, giữa sinh hoạt náo nhiệt...

Một hôm Bàng Bá Lân hỏi Vũ Hoàng Chương bài thơ nào ông thích nhất, ông Vũ bảo là bài ‘Thôi hết băn khoăn’:

"Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người
Sên bò nát óc máu thầm rơi
Chiều nay một dấu than buông dứt
Đinh đóng vào săng tiếng trả lời.”
(Kỷ niệm văn thi sĩ hiện đại)

Dù được làm trong một dịp trọng đại, ngày thân mẫu thi sĩ qua đời, bài ‘Nhị thập bát tú’ vẫn có cái tỉ mẩn của tiểu xảo: dấu hỏi đối dấu than, dấu hỏi xoáy vòng như ốc sên, dấu than giống hình chiếc đinh v.v.

Một hôm khác Phạm Thiên Thư trông trăng và làm thơ:

"ngàn xưa ai từng ở nơi này
rồi đến ngàn sau ai đến đây
câu hỏi — liềm trăng còn ngoặc mãi
lời thưa — dằng dặc mấy cồn mây.”
(Liềm trăng)

Cũng vẫn một chút tiểu xảo. Lại thêm cái tỉnh táo lạnh lẽo.

Tô Thùy Yên không thế. Ông nhiệt liệt, lúc nào cũng nhiệt liệt. Khi ai oán giận dữ hoặc ông kêu:

"Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê.”
(Trường Sa hành)

hoặc ông nhận định trời đất một cách nghiệt ngã:

"Trời đất vô ngôn lại bất nhân”
(Hề, ta trở lại gian nhà cỏ)

hoặc ông thống trách:

"Hỡi ôi, trời đất lạnh tình thay!”
(Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai)

Khi hứng chí yêu đời, ông lại xao động vì cái mầm cỏ rạo rực, vì con chèo bẻo lanh chanh; ông cảm ơn đời đến tuôn trào nước mắt...

Đừng tìm cái phải cái quấy trong những cảm xúc triết lý của ông. Ông khen, ông chê, ông ca ngợi, ông nguyền rủa..., đều đúng cả. Đúng tuốt hết. Không phải đúng với thiên lý nào, mà đúng với lòng ông mỗi lúc.

Vừa rồi trót nói đến cái “nhiệt liệt” của Tô Thùy Yên. Nói rồi sinh e ngại (lại e với ngại!): không khéo có kẻ xấu miệng bảo mình bày ra chuyện so sánh ông Tô với ông Vũ, ông Phạm với ông Đinh v.v. là do một thiên vị nào chăng? là ngầm ý bên nặng bên nhẹ chăng?

Ôi thôi! ngại sao ngại quá đến thế? Nhiệt liệt là hơn, kém nhiệt liệt là thua à? Tiêu chuẩn xét người luận tài đâu có tiêu chuẩn quái kỳ đến thế? Hàn nhiệt chẳng qua tính người. Bao Tự mặt nguội, sầu bi im ỉm, mà đấng chí tôn mê muốn chết, thấy không?

Kẻ xấu miệng nào đó có vẻ muốn dồn tôi tới chỗ lố lăng mất thôi. Bởi vì không chừng tôi sắp phải so sánh Tô Thùy Yên với các đại gia nghìn xưa đến nơi. Thật vậy, văn nhân, và nhất là thi sĩ, Á Đông xưa nay vẫn chuộng cái tinh tế hơn cái ồn ào, cái nuột nà hơn cái rùng rợn, cái buồn dịu hơn cái tưng bừng. Mà buồn buồn thì lại hơn buồn, dìu dịu thì hơn dịu. Chuyện ấy thiên hạ nói qua nói lại đã nhiều, không mới lạ gì. Cho nên bao nhiêu thi sĩ khác có thư thả ung dung, có dịu dàng thanh thoát v.v. cũng phải thôi. Nhưng Tô Thùy Yên thì không thế.

Ở Tô Thùy Yên hoặc ta gặp những cảnh khủng khiếp, những cảnh tượng làm nổi da gà:

"Em chạy tìm anh ngoài cõi gió
Lửa oan khốc giỡn cười ghê hồn
Tiếng kêu đá lở long thiên cổ
Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn.”
(Góa phụ)

hoặc ta gặp cảnh hùng vĩ lạ thường:

"Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo...
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân.”
(Trường Sa hành)

Đỗ Phủ chẳng hạn, hôm nào ông chỉ là khách trọ tình cờ gặp dịp bắt lính ở thôn Thạch Hào, chủ nhân vọt trốn, thi sĩ nằm trong nhà nghe bà lão van lơn ngoài cổng, thế mà thi sĩ đã xót xa hãi hùng. Đàng này, Tô Thùy Yên không có thì giờ kể đến những chuyện ấy đâu. Nếu Đỗ tiền bối có gan dám nghe, Tô Thùy Yên đã sẵn những câu chuyện khác, đậm đà hơn:

"Tiếp tế khó — đôi lần phải lục
Trên người bạn gục đạn mươi viên
Di tản khó — sâu dòi lúc nhúc
Trong vết thương người bạn nín rên
Người chết mấy ngày chưa lấy xác
Thây sình mặt nát lạch mương tanh...”
(Qua sông)

Những cái ghê rợn như thế đã bao giờ xuất hiện trong thơ ta? Tô Thùy Yên thay đổi cái ngôn ngữ thi ca quen thuộc tự lâu đời của Đông phương.

Hàn nhiệt là tính người, mà cũng phần nào là do hoàn cảnh. Có thể vốn tính Tô Thùy Yên không thích những cái tỉ mẩn, cái mây nhè nhẹ gió hiu hiu; mà cũng vì ông là quân nhân từng xông pha, từng sát kề cái chết. Ông triết lý xa vời về những chuyện càn khôn vũ trụ, có khi ông muốn ngoảnh mặt với đời, “định rất gần đây (...) xin đi dạy học trường làng, già có tiền lương hưu trí, chết có quan tài nước mắt vợ con”, nhưng thực ra cho đến tận cùng cuộc chiến ông vẫn mặc quân phục trên người, ông vẫn là kẻ dấn thân, là người tham dự, người trong cuộc. Ông không từng bao giờ có dịp nghỉ ngơi ở một “gác mây”, có dịp gát bút hay gát súng, không từng bao giờ phởn phơ ở “trang trại hồng”, ở “động hoa vàng” hoa đỏ nào cả. Thành thử dù trong thất chí, buồn đau, lời thơ ông vẫn rung lên cái nồng nàn của cuộc sống.

Nghĩ về hoàn cảnh ông, không khỏi liên tưởng đến hoàn cảnh những thi sĩ Miền Bắc. Họ cũng tay bút tay súng. Họ cũng chứng kiến chết chóc. Nhưng trong thơ văn Miền Bắc không có cái chết đau đớn như trong thơ Tô Thùy Yên. Trong đấu tố, trong chiến tranh, ngoài bắc không có xác chết bạn: la liệt chỉ có xác ngụy, xác địa chủ. Xác ngụy không phải xác người. Tô Thùy Yên là ta, gọi lính cộng sản là “ngươi”:

"Vì sao ngươi tới đây?
Hỡi gã cộng quân sốt rét, đói
Xích lời nguyền sinh Bắc tử Nam.”
(Chiều trên phá Tam Giang)

Tô Thùy Yên gọi thế, Nguyễn Bắc Sơn cũng thường gọi thế. Trong khi ấy, Nguyễn Thành Long chẳng hạn từng có cuốn thơ Ta và chúng nó. “Ngươi” là người, còn “chúng nó” có thể thuộc bất cứ loài nào: Kỳ đà, cắc ké, kỳ nhông, đà điểu, khủng long v.v. đều là “chúng nó” cả. Xác người mới gây đau đớn xót xa; xác “chúng nó”, ối, xác “chúng nó” thì chỉ khiến các kỹ sư tâm hồn mừng rơn, cười toe thôi. Kỹ sư tâm hồn nêu cờ tả chân; thực ra nào họ có tả chân tả tay gì đâu? Đại khái như chuyện treo đầu dê bán thịt chó. Tất cả họ không ai trông thấy một xác người. Sau ngót ba chục năm tàn sát nhau, trong văn thơ Miền Bắc không có xác bạn, xác người, toàn xác “chúng nó”.

Cái chết diễn tả cực kỳ mạnh mẽ, nằm mở mắt trừng trừng trong những câu thơ Tô Thùy Yên sẽ đeo đuổi chúng ta mãi mãi. Đó là cái chết vừa ghê sợ vừa đau thương. Cái chết của người, người thân.

Vì băn khoăn siêu hình là chủ yếu trong thơ Tô Thùy Yên, ngay từ lúc bắt đầu, từ những ngày ông còn rất trẻ, cho nên người đọc cũng trót nói nhiều về cái triết trong thơ ông. Lại nói đây là chuyện xuất hiện lần đầu ở người miền Nam. Thế có phải nhờ tư tưởng siêu hình mà thơ Tô Thùy Yên cao hơn thơ người khác, nhờ nó mà ông nâng cao thơ Miền Nam lên chăng?

Tất nhiên là thơ hay không chờ có triết, là triết không làm cho thơ hay thêm. Và cao thì triết có cái cao của triết, thơ có cái cao riêng của thơ; không hẳn như nhau. Nhưng quả các xúc cảm siêu hình có cái giá trị đặc biệt của nó. Các dân tộc trên thế giới, ở trình độ văn minh nào cũng có thơ, nhưng trong số bao nhiêu nền văn minh của nhân loại từ xưa đến nay chỉ có ba nền văn minh xây dựng được hệ thống triết lý. Thành thử khi rốt cuộc kẻ Nam người Bắc chúng ta cùng tiến đến gần nhau trong cảm xúc trước tạo vật thì thật là một hân hoan chung cho dân tộc.

Trước đây, khi bị số mệnh dồn đến đường cùng Thúy Kiều và Nguyệt Nga cùng quyết định tự trầm. Cử chỉ đầu tiên của hai nàng giống nhau: Thúy Kiều “cửa bồng vội mở rèm châu”, còn Nguyệt Nga thì “lén ra mở bức rèm châu một mình”. Nhưng sau đó, trước khi gieo mình xuống sông, nhân vật của Nguyễn Du hai lần rợn ngợp (“Trời cao sông rộng một màu bao la”, và “Trông vời con nước mênh mông”), còn nhân vật của Nguyễn Đình Chiểu thì “vội vàng nhảy ngay”, không lôi thôi. Một nhà phê bình tiền chiến đã liên hệ thái độ của Thúy Kiều với thái độ triết lý của Pascal trước vũ trụ vô cùng, và cho rằng Nguyệt Nga có vẻ láu táu buồn cười. Tô Thùy Yên lấp bằng khoảng cách Bắc Nam ấy.

Thắc mắc siêu hình không phải lúc nào cũng được hoan nghênh. Thắc mắc mà không giải đáp được cho nên hoặc chính các triết gia phải xua đuổi nó đi, hoặc có những chế độ không muốn bị quấy rầy, quát tháo trấn áp nó. Một kẻ phát ngôn của chế độ nọ chê bai:

"Ta là ai? Như ngọn gió siêu hình
Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt.”
(Hai câu hỏi)

Thế nhưng Chế Lan Viên chưa kịp nằm xuống thì câu hỏi hư vô lại đã chớm dựng lên trước tâm tư lớp văn nghệ sĩ tạm được cởi trói.

Từ thời này qua thời khác, suốt mấy nghìn năm những câu hỏi siêu hình cứ như sóng biển đập vào bờ, rút lui ra, nhưng rồi lại tiến vào đập vã lên cát, liên miên bất tuyệt.

Sau này rồi bao lớp người khác sẽ còn thấm thía về cái “Hiu Quạnh Lớn”, về câu thơ “đãng tử” của Tô Thùy Yên. Thơ ông về sau, vào những năm cuối cùng của chế độ, càng thấm, càng hay. Điều đáng tiếc là nó tản mác quá. Ông cùng với bà Thụy Vũ từng chủ trương một nhà xuất bản (Kẻ Sĩ), không hiểu sao trước sau ông không in cho mình tập thơ nào. Thơ ông đăng trên nhiều báo khác nhau suốt hai mươi năm, ngay lúc này muốn tìm mà đọc thật khó khăn. Kẻ này sao được một ít, người kia chép lại thêm một ít nữa, chỗ sai chỗ đúng...

"Lời nhớ, lời quên, dạ xốn xang"

Lần này thì lời là lời ông, mà dạ là dạ chúng ta. Thật vậy, trước sự mất mát ấy, lòng dạ chúng ta, những thân thuộc xa gần, bạn bè đồng nghiệp, cũng như độc giả mến mộ, sao khỏi xốn xang?

8 - 1991

(Copy từ trang nhà nhà văn Nguyễn Thị Thảo An)

Tuesday, March 26, 2019

Chú Đại Bi

10 ĐẶC TÍNH CỦA THẦN CHÚ ĐẠI BI
Ta đang trì tụng Đại Bi Thần Chú. Vậy trước tiên ta cũng nên biết Chú là gì?
Chú còn được biết dưới những tên gọi khác là Thần Chú, là Chân Ngôn hay Mật ngôn, tiếng Phạn là Đà La Ni (Dhàrani), tức là những câu nói bí mật của chư Phật, chư Bồ Tát. Đà La Ni được dịch qua tiếng Trung Hoa có nghĩa là Tổng Trì, tức là một loại thần lực có năng lực thâu nhiếp cùng bảo trì tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian không cho các thiện pháp bị tán loạn và ngăn che các ác pháp không cho phát sanh.
Tuy thần chú là những lời nói nhiệm mầu, bí mật của chư Phật, chư Bồ Tát ta khó thể lãnh hội được nội dung, ý nghĩa nhưng điều này không có nghĩa là khi trì tụng Thần chú Đại Bi ta chỉ đọc tụng lên một cách máy móc. Một khi đã biết được công năng và oai lực của Thần chú Đại Bi sẽ giúp ta hiểu được tướng mạo của Thần Chú Đại Bi, hay nói một cách rõ ràng hơn, đặc tính của Đại Bi Tâm. Những đặc tính này đã được Bồ Tát Quán Thế Âm giải thích rõ ở trong kinh khi đáp lại lời thỉnh cầu của vua trời Đại Phạm Thiên Vương, đó là :
1. Tâm Đại Từ Bi
2. Tâm Bình Đẳng
3. Tâm Vô Vi
4. Tâm Chẳng Nhiễm Trước
5. Tâm Không Quán
6. Tâm Cung Kính
7. Tâm Khiêm Nhường
8. Tâm không Tạp Loạn
9. Tâm Không Chấp Giữ
10. Tâm Vô Thượng Bồ Đề
Chân tâm là Phật tánh, vốn thường hằng, hiện hữu trong mỗi chúng sanh. Ta không thấy được chân tâm của mình vì vô minh, vì tội ác, nghiệp chướng như rong rêu tích tụ từ hằng hà sa số kiếp đang bao phủ nó. Bồ Tát Quán Thế Âm hằng thương yêu lo lắng cho chúng sanh đã giúp ta phương tiện diệu dụng là Thần chú Đại Bi, như chỉ cho ta một con đường tắt để hành trì tu tập, mau chóng tiến đến niết bàn.
Trì tụng Thần chú Đại Bi chắc chắn sẽ làm vỡ ra những mảng tội ác, nghiệp chướng đã đeo đẳng, dính cứng vào thân ta từ bao đời, oai lực của nó sẽ như ngọn đuốc bùng lên giữa đêm dài vô minh tăm tối, làm bừng sáng, tỏ ngộ chân tâm.
st