Showing posts with label Phật học thường thức. Show all posts
Showing posts with label Phật học thường thức. Show all posts

Sunday, March 23, 2025

10 ĐIỀU CHỨNG MINH BẠN CÓ DUYÊN VỚI PHẬT




1. Trong tâm có Phật chính là Phật duyên
  • Phật vô xứ bất tại, tu Phật không ở vẻ bên ngoài mà ở tại trong tâm, bạn có tâm như thế nào, có tin Phật tồn tại hay không. Trong tâm có Phật cũng chính là có duyên với Phật.
2. Vứt bỏ đi cái dục vọng xấu chính là Phật duyên
  • Phật duyên chính là giảm bớt những dục vọng quá đà. Trong kinh Phật nói chưa đoạn đứt tự ngã, tình ái thì khó nhập cảnh giới khiết tịnh, yêu hận ơn thù đều là chướng ngại của tình cảm. Tất cả những đau khổ của con người đều ở tại sự theo đuổi những thứ sai trái. Sự cố chấp của ngày hôm nay có thể tạo thành sự hối hận của ngày mai.
  • Nếu như bạn không đem lại phiền não cho chính bạn thì người khác cũng chẳng bao giờ có thể đem lại phiền não cho bạn. Mọi thứ đều là vì nội tâm của bạn không dứt bỏ được cái dục vọng xấu. Có thể buông bỏ được dục vọng xấu đó cũng chính là có duyên với Phật.
3. Đối diện với cuộc sống một cách bình hòa chính là Phật duyên
  • Phật duyên chính là một loại tâm cảnh bình hòa. Tư tưởng của con người rất không ổn định, nó rất dễ bị dẫn dụ, nhất là những cám dỗ kì lạ càng dễ làm người ta mất phương hướng. Rất nhiều người trong tâm muốn chiếm hữu thì khó có được khoảnh khắc thanh nhàn, không những mất đi niềm vui trong cuộc sống mà còn đem lại cho cuộc sống sự căng thẳng và phiền não.
  • Phật dạy chúng ta biết cách dùng cái tâm bình lặng để nhìn nhận cuộc sống được và mất, làm cho thể tính bộc lộ một cách tự nhiên. Bình hòa đối diện với cuộc sống đó chính là có duyên với Phật.
4. Có trách nhiệm với việc làm của mình là Phật duyên
  • Phật duyên chính là trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Người có tâm phật không nhìn vào sai lầm của người khác, nếu chỉ nhìn vào sai lầm của người khác thì không nhìn thấy được sai lầm của mình.
  • Do vậy cần phải hiểu rõ bản thân, nhìn rõ những việc bản thân cần làm và cũng cần nhìn rõ hậu quả của cái việc bản thân cần làm, bởi vì bạn cần có trách nhiệm với cái hậu quả đó. Đừng để cuộc đời của bạn lãng phí vào nơi mà bạn nhất định hối hận. Có trách nhiệm với việc làm của mình chính là có duyên với Phật.
5. Có tín niệm tốt lành chính là Phật duyên
  • Phật duyên là trong tâm có tín niệm. Trong lúc bạn đau khổ nhất chỉ cần bạn có niềm tin rằng đau khổ không phải là mãi mãi bạn nhất định sẽ có sức mạnh để chiến thắng đau khổ, đây chính là một dạng tín niệm.
  • Có thể nói tín niệm chính là con đường chủ đạo của đời người, thành Phật hay thành ma cũng chính là ở tại một niệm, nếu có tín niệm tốt lành đó cũng chính là có duyên với Phật.
  • Trong lúc bạn đau khổ nhất chỉ cần bạn có niềm tin rằng đau khổ không phải là mãi mãi, ngày tốt đẹp sẽ tới…
6. Làm việc có trí huệ chính là Phật duyên
  • Phật duyên là trí huệ thông suốt đại ngộ. Trong cuộc sống, nếu có thể dùng trí huệ để nhìn nhận vấn đề thì có thể tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức, cũng có thể giảm bớt rất nhiều phiền não và ràng buộc, lại còn có hiệu quả làm ít hưởng nhiều.
  • Nhận biết chính mình, hàng phục chính mình là trí huệ. Nếu có được dạng trí huệ này mới có thể thay đổi người khác, chỉ biết nói không biết làm không phải là trí huệ chân chính. Người hiểu được nhìn đời bằng trí huệ, làm việc có trí huệ cũng chính là có duyên với Phật.
7. Giỏi kiềm chế chính là Phật duyên
  • Phật duyên là kiềm chế tất cả, kiềm chế chính là sự rèn luyện trí huệ, cũng chính là tích lũy năng lượng, nó dùng ngọn lửa vô hình làm tan chảy băng đá. Kiềm chế đem lại cho bạn sự đau khổ, những ngày sau nó tất thành mật ngọt.
  • Kiềm chế không giống với trốn chạy, bởi vì trốn chạy là sự thất bại của ý chí, mà kiềm chế lại là không quên sứ mệnh của bản thân làm cho ý chí thêm kiên định, thêm chữ Nhẫn. Hãy học cách cảm ơn những chúng sinh đem lại cho bạn nghịch cảnh, giỏi kiềm chế cũng chính là có duyên với Phật.
8. Rộng lượng đối với người chính là Phật duyên
  • Phật duyên là biết rộng lượng. Từ bi chân chính không phải là yêu thương những người yêu thương bạn mà còn phải khoan dung và yêu quý những người đối lập bạn. Hãy yêu người khác như yêu chính bản thân mình.
  • Trong lúc người khác vì một sự hiểu lầm nào đó mà đối xử không tốt với bạn, cần phải đem cái tâm từ bi mà bao dung người đó. Hãy đem lý trí để cảm hóa người đó. Rộng lượng đối với người cũng chính là có duyên với Phật.
9. Biết chờ đợi chính là Phật duyên
  • Lúc cơ duyên ở tại nhân quả đã thành thục, Phật duyên tự nhiên sẽ đến bên chúng ta.
  • Chưa có duyên không có nghĩa là không bao giờ có duyên, mỗi người đều có Phật tính, ai cũng có tâm tu Phật. Biết ơn hoàn cảnh xung quanh, cho dù là nghịch cảnh, biết chờ đợi Phật duyên tới cũng chính là có duyên với Phật.
10. Thiện từ chính là Phật duyên
  • Phật duyên là thiện, tức là sống thiện đã hướng tới Phật duyên, là gieo mầm nhân quả cơ duyên với Phật Pháp rồi.
Theo An Lạc Chi Tâm


Monday, March 17, 2025

Tứ diệu đế, bát chánh đạo




Diệu là hay đẹp, quý báu. Đế là sự thật chắc chắn. Tứ diệu đế là bốn sự thật chắc chắn quý báu. Đây là giáo lý căn bản của của đạo Phật.

Sau khi thành đạo, đức Phật Thích Ca liền nghĩ đến việc đem giáo lý mà ngài vừa chứng ngộ truyền bá cho chúng sanh. Ngài đã giảng trước hết cho 5 anh em Kiều Trần Như (trước đây cùng tu khổ hạnh với ngài). Sau khi nghe pháp, Kiều Trần Như là người đầu tiên trong số 5 người đã chứng nhập quả vị A La Hán, 5 người đã trở thành những đệ tử đầu tiên của đức Phật.

1.Khổ đế
Trước hết, đức Phật chỉ cho chúng sanh thấy rõ cảnh đau thương sầu khổ của cuộc đời. Ngài từng nói: “nước mắt chúng sanh nhiều hơn cả nước trong bốn đại dương”. Cái khổ được ngài hệ thống lại trong 8 loại:
  • a- 4 cái khổ không ai tránh khỏi: sanh, lão, bệnh, tử. Bốn nỗi khổ này không ai tránh khỏi.
  • b- Cầu bất đắc khổ: điều cầu mong mà không đạt được làm cho ta đau khổ.
  • c- Ái biệt ly khổ: Yêu thương mà phải biệt ly nhau là khổ
  • d- Oán tắng hội khổ: Ngược lại những người mình ghét cay ghét đắng mà phải gặp gỡ làm mình bực bội khổ sở.
  • e- Ngũ ấm xí thạnh khổ: đây là nỗi khổ do cảm giác không vừa ý của năm giác quan mang đến.



2.Tập đế
Tập đế là giải thích nguyên nhân của khổ đế, đó là sự kết tập những nhân duyên, phiền não. Đại loại có thể chia là 10 thứ phiền não,


những phiền não nặng nề khởi sinh một cách ngấm ngầm chậm chạp nhưng mãnh liệt, rất khó diệt trừ:

  • 1-Tham lam: ham muốn, luyến ái.
  • 2-Sân hận: giận giữ, nóng nảy, thiếu kiềm chế.
  • 3-Si mê: ngu muội, không thấy được sự thật.
  • 4-Ngã mạn: tự cao, kiêu căng, khinh người.
  • 5-Nghi ngờ: nghi ngờ bản thân, nghi ngờ người khác.

Những phiền não dễ sinh khởi nhưng cũng dễ trừ bỏ, đó là những nhận thức sai lầm:


  • 6-Thân kiến: không hiểu luật vô thường, chấp vào bản thân là quý giá.
  • 7-Biên kiến: cố chấp một bên, không đúng sự thật.
  • 8-Tà kiến: lý giải tà bậy.
  • 9-Kiến thủ: bảo thủ lý giải của mình, không chịu tin chánh lý.
  • 10-Giới cấm thủ: thực hành những giới luật sai lầm.



3.Diệt đế
Tìm ra nguyên nhân đau khổ không phải để thất vọng chán chường, như một vài người hiểu sai về đạo phật. Có đau khổ thì phải có cảnh giới an vui. Cảnh giới an vui đó chính là diệt đế, nơi đã diệt hết những khổ đau, còn gọi là niết bàn.



4.Đạo đế
Đạo đế là con đường chấm dứt khổ đau, đưa ta đến niết bàn. Con đường ấy gồm có 37 phẩm được chia làm 7 chi gồm: tứ chánh cần, tứ niệm xứ, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần và bát chánh đạo. Trong đó, bát chánh đạo là quan trong nhất, 8 nhánh trong bát chánh đạo chính là:


  • -Chánh tri kiến: nhận thức đúng đắn
  • -Chánh tư duy: suy nghĩ chân chánh
  • -Chánh ngữ: nói lời chân chánh
  • -Chánh nghiệp: hành động đúng đắn
  • -Chánh mạng: nghề nghiệp mưu sinh chân chánh
  • -Chánh tinh tấn: siêng năng chân chánh
  • -Chánh niệm: tưởng nhớ đúng đắn
  • -Chánh định: tập trung đúng đắn



CLIP MINH HỌA 


📖📖

Trải qua 2500 năm trước, một chàng thanh niên đã lên đường từ bỏ tất cả, cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con khôn, tài sản quý báu để đi tìm một con đường, mà thuở bấy giờ, chàng nhận thấy sự thật là có những Khổ sinh ra thì chắc chắn có con đường diệt Khổ.
Chàng trai ấy sau này trở thành Đức Phật Gautama, dân gian hay còn gọi là Phật Thích Ca.

Đức Phật đã giác ngộ điều gì và truyền dạy lại những gì cho hậu thế, quả là đến bây giờ vẫn còn nhiều điều cần thảo luận, vì vậy, qua những bài viết này, xin chia sẻ đến những người có duyên từng bước những thông tin cơ bản ngõ hầu gạt đi những quan điểm về tôn giáo, triết học, văn hóa dân gian mà khi đi đến quốc gia nào, Đạo Phật luôn bị đồng hóa với văn hóa bản địa trở thành những điều mà không còn nguyên bản nữa.

Trải qua 6 năm tu hành vừa khổ hạnh, vừa chừng mực, Đức Phật đã biết(knowing) và thấy(seeing) những điều sau, mà sau này gọi là Tứ Diệu Đế, tức 4 sự thật về khổ. (đọc đầy đủ tại bài Kinh : https://suttacentral.net/vn/sn56.11)

1.  KHỔ LÀ GÌ ?
  • Sinh là khổ,
  •  già là khổ,
  •  bệnh là khổ, 
  • chết là khổ,
  •  sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ,
  •  oán gặp nhau là khổ,
  •  ái biệt ly là khổ, 
  • cầu không được là khổ. 
Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. 
Ở diệu đế thứ nhất, ngài chỉ ra rằng Khổ có thật, và nó tồn tại khách quan, hoàn toàn độc lập với ý chí con người dù muốn hay không muốn, đó là những nỗi khổ mà con người không cưỡng lại được như sinh ra, già đi hàng ngày, bệnh tật là cái chắc chắn, không bệnh này thì bệnh kia, và chắc chắn, tất cả chúng ta đều phải chết dù muốn dù không, những cái này là Thân Kiến, tức cho rằng thân thể này là Của Tôi, nhưng lại không điều khiển được nó, rồi chưa kể đến những phiền não sầu bi trong đời sống hàng ngày từ gia đình, đến công việc, cho dù là người giàu hay nghèo thì đều có những phiền não riêng, rồi là ghét nhau, rồi yêu mà phải chia ly, hoặc cầu mà không được cũng gây khó chịu. Năm thủ uẩn là khổ sẽ phân tích vì sao lại thế ở các bài viết sau khi chúng ta làm quen với khái niệm về Ngũ Uẩn(sắc, thọ, tưởng, hành, thức: sắc là thân người, thọ là các cảm xúc, tưởng là chức năng gán nhãn, gọi tên, hành là các hành động của 6 giác quan và thức là sự nhận thức, nhận biết của 6 giác quan), Ngũ Uẩn tập hợp cấu tạo nên con người.

2.TẠI SAO KHỔ?
  • Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỷ-kheo, chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
 Nguyên nhân gây ra khổ là gì được Ngài chỉ ra ở điều thứ 2, chính những ái (khao khát ngủ ngầm) nó dẫn con người đến các đời sống khác nhau (luân hồi), chính sự tìm cầu của các giác quan ví dụ như : Mắt tìm hỷ lạc ở trong sắc(thích người, vật đẹp, ưa nhìn) , Tai tìm hỷ lạc ở âm thanh (nghe nhạc, ca hát...), mũi tìm hỷ lạc ở mùi hương, lưỡi tìm hỷ lạc ở vị ngon, thân tìm hỷ lạc ở xúc chạm dễ chịu và ý tìm hỷ lạc ở các suy nghĩ tưởng tượng. Những hỷ lạc đó của các giác quan gọi là Dục ái, ngoài ra còn 1 cái ái nữa là Hữu ái tức ái khao khát được tồn tại, 1 ái nữa là Phi hữu ái tức khao khát được biến mất, đoạn diệt (chán đời...), sẽ có những bài viết phân tích về sau vì sao Ái lại nguy hiểm, loại Ái nào cần bỏ, vì sao Giới luật đề ra để làm gì? Và hành thiền để làm gì, điều này rất quan trọng, nếu không hiểu về Ái, người ta sẽ bỏ giới luật và tìm cầu hỷ lạc, và tiếp tục tạo ra các nguyên nhân gây khổ

3. DIỆT KHỔ SẼ VỀ ĐÂU?
Ở điều 3 này, Phật giảng về Khổ diệt, 
  • Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước. Đây chính là Niết Bàn, 
Niết Bàn đơn giản khi 1 vị nào đó tu tập diệt được ái, những khao khát ngủ ngầm, những nguyên nhân gây khổ không còn 1 chút nào nữa trong tâm vị ấy, ly tham hoàn toàn, tham và sân đoạn diệt hoàn toàn không còn khởi lên dù chỉ là 1 chút dư tàn. Đây chính là Giác Ngộ và Giải Thoátmà nhiều người vẫn còn thắc mắc là trong Đạo Phật giác ngộ là gì, rất đơn giản về khái niệm, nhưng khó vô cùng về thực hành phải không?

4. CON ĐƯỜNG DIỆT KHỔ 
Ở điều 4, Phật giảng về con đường dẫn đến Khổ diệt, hay còn gọi là Đạo Đế, Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, 
  • này các Tỷ-kheo, chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. 
Phật chỉ ngoài con đường thực hành 8 điều chân chánh này ra, thì không còn con đường nào khác diệt được Ái, 8 điều chân chánh phải thực hiện cùng lúc, mới nhổ được gốc của Ái chạy ngủ ngầm trong tâm của mỗi người. Để thực hành nó phải làm từng bước 1, từ cơ bản đến nâng cao, từ việc giữ giới của cư sĩ như 5 giới cơ bản: Không sát sinh, không uống rượu, không nói dối, không tà dâm, không trộm cắp. Nhờ giữ Giới, tâm được an ổn (không lăn tăn, hối hận, bất ai, xung đột nội tâm), do tâm được an ổn nên tâm có Định, tâm có định nhờ giữ giới, nhờ ly dục nên Định này được gọi là Chánh Định, khác với các loại Định khác có được nhờ các phương pháp khác không phải ly dục, ly các bất thiện nên gọi là Tà Định. Do có chánh định, kèm Chánh Kiến (biết phân biệt đúng sai, tốt xấu, thiện và bất thiện) và Chánh Tư Duy(Biết tư duy, suy luận đúng đắn, dựa trên nhiều góc nhìn đúng của Chánh Kiến), đi kèm cùng Chánh Ngữ (Nói năng chân thật, từ tốn, đúng thời, mang lại lợi ích cho người nói và nghe, ..), Chánh Nghiệp (Lựa chọn nghề nghiệp chân chính, nghề nghiệp trong sạch, được xã hội và pháp luật, người dân công nhận), Chánh mạng (nuôi thân chân chánh từ sức lao động đi kèm Chánh nghiệp) , Chánh tinh tấn (từ bỏ các bất thiện, nuôi dưỡng tăng trưởng các thiện tâm), Chánh niệm (nhớ về các điều thiện, nhớ lời Phật dạy).. Con đường Bát Chánh là con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ và giải thoát.
Tứ Diệu Đế là 4 sự thật về Khổ. Trong tất cả các bài Kinh, Phật chỉ dạy đi dạy lại về Tứ Diệu Đế, ngoài ra không dạy gì thêm. Nhờ đó, các vị đệ tử thực hành theo bằng cách giữ gìn giới luật, hành thiền định (để có Chánh Định) và thiền quán (để có Chánh Kiến, Chánh Tư Duy...) và với những nỗ lực bền bỉ, kiên nhẫn, họ thành tựu Pháp Hành để trở thành các bậc Thánh, tâm đã đoạn diệt hoàn toàn các ô nhiễm ngủ ngầm và giải thoát hoàn toàn.

Những chi tiết về con đường dẫn đến giác ngộ xin viết ở phần 2 ở các bài viết sau sẽ giải thích chi tiết tỉ mỉ cách thực hành từng bước 1 và kể về những case study của các thiền sư ngày xưa và ngày nay đã thực hành ra sao dựa trên những Kinh Sách nào.

Case study đầu tiên là khi Phật giảng bài Kinh Vô Ngã Tưởng cho 5 vị đạo sỹ tên là Kiều Trần Như, nhờ đó mà 5 vị sau nghi nghe giảng đã thực hành theo và đạt được giác ngộ và giải thoát hoàn toàn.
- Link bài Kinh đó ở đây: https://suttacentral.net/vn/sn22.59
- Link bài giải thích bài Kinh trên ở đây cho những ai đọc Kinh chưa hiểu: https://www.budsas.org/uni/u-kinhvnt/kvnt01.htm



Đầu tiên, Phật xác định đối tượng cần giải quyết. Đó là Khổ. Chiết nghĩa được từ này chắc cả vạn quyển không xong. Đơn giản, ta cứ gọi là Khổ đã. Tiếng Anh dịch là suffering (sự chịu đựng). Sau này, bạn sẽ hiểu Khổ không phải khổ đau ta hay dùng mà Khổ đơn giản là sự sai lệch giữa kì vọng và thực tế. Thực tế mưa, bạn muốn nắng, đó là khổ. Thực tế nóng, bạn muốn lạnh, đó là khổ. Khi nào, thực tế mưa bạn thấy vui, nắng cũng thấy vui, đi qua đống rác thấy thối, nhưng vẫn vui và chấp nhận rác thì phải thối, thì bạn là Phật.

Phật không dạy Cân Đẩu Vân, không dạy biến hình, không dạy thần thông. Ngồi thiền 49 ngày, rồi quyết định theo con đường Trung Đạo và soạn ra Tứ Diệu Đế cho đời. Xác định được Khổ, ngài viết là Khổ Đế. Tiếp theo, Ngài dạy nguyên nhân Khổ tức Tập Đế. Khi biết nguyên nhân Khổ, lại dạy diệt Khổ rồi thì sẽ như nào, tức là Diệt Đế. Diệt Đế nôm na là mục đích muốn tới, là mười quả bóng bowling đã thấy rõ. Cuối cùng, nắm rõ mục đích, Ngài mới dạy cách đi tới đích tức Đạo Đế, cách diệt Khổ. Và cách diệt Khổ là một con đường mà khi đi ta phải mang theo, trang bị, rèn luyện, lên level cho mình 8 thứ gọi là Bát Chánh Đạo. Cực kì rõ ràng và khúc chiết. Không à uôm loằng ngoằng.

Đức Phật biết rất nhiều, nhưng không nói hết vì không liên quan. Phật chỉ truyền cho nhân gian bốn điều trên, tức Tứ Diệu Đế, bốn chân lý kỳ diệu. Chúng sinh nắm được bốn điều kì diệu trên là đạt con đường tiệm tu đắc quả A La Hán. Tuy chậm nhưng chắc chắn.
st

Monday, October 14, 2024

VỊ PHẬT ĐỘ MỆNH CHO BẠN LÀ AI

 







1. Người sinh năm Tý sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Quan âm nghìn tay - vị Bồ tát tượng trưng cho sự nhân ái, từ bi. Ngài sẽ giúp bạn hóa giải mọi khó khăn, vượt qua các trở ngại một cách thuận lợi để có cuộc sống bình an, hạnh phúc và may mắn.
2. Người sinh năm Sửu, Dần sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Hư Không Tạng Bồ tát còn gọi là Khố tàng Kim Cương - vị Phật tượng trưng cho sự thành thực và giàu có.Ngài giúp cho đường tài vận của bạn thêm hanh thông, thuận lợi, có thể làm ra và tích lũy được nhiều của cải
3. Người sinh năm Mão sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Văn Thù Bồ tát - tượng trưng cho trí tuệ lớn. Với sự giúp sức của Ngài, trẻ sinh năm Mão sẽ luôn đạt được thành tích tốt trong học tập; những người đang là công chức sẽ nhận được rất nhiều lộc; thương gia tuổi Mão sẽ luôn gặp may mắn, có nhiều tiền của, phúc lộc
4. Người sinh năm Thìn, Tỵ sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Phổ Hiền Bồ tát - vị Bồ tát tượng trưng cho lễ nghi, sự đức độ và tự nguyện. Ngài sẽ giúp bạn thực hiện được những nguyện vọng lớn lao nhất của mình, thoát khỏi cạm bẫy của những kẻ tiểu nhân, gia tăng thêm uy quyền lãnh đạo, vượt lên mọi trở ngại để có cuộc sống hạnh phúc, mỹ mãn.
5. Người sinh năm Ngọ sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Đại Thế chí Bồ tát - vị Bồ tát mang lại ánh sáng của trí tuệ.Ngài sẽ giúp bạn luôn thuận buồm xuôi gió, thành công trong sự nghiệp luôn cát tường, may mắn như ý nguyện.
6. Người sinh năm Mùi, Thân sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Như Lai đại nhật - vị Phật tượng trưng cho ánh sáng và trí tuệ. Ngài sẽ mang lại cho bạn sức mạnh của ánh sáng và tri thức, giúp bạn vượt qua mọi khổ đau, bi ai trong cuộc sống, nắm bắt được những nét tinh hoa của vạn vật, dũng cảm tiến lên phía trước để đến với chân trời của ánh sáng và niềm vui
7. Người sinh năm Dậu sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Bất động Minh vương - tượng trưng cho lý tính. Ngài sẽ giúp bạn luôn phân biệt được mọi sự đúng sai trên đường đời, có thể nắm bắt được mọi cơ hội, tận dụng tốt trí tuệ của mình, thích ứng tốt với mọi hoàn cảnh để xây dựng được một sự nghiệp thành công. Bên cạnh đó, gia đình bạn cũng luôn có hạnh phúc, may mắn, cát tường, như ý
8. Người sinh năm Tuất, Hợi sẽ được phù hộ bởi Phật A di đà - tượng trưng của sáng suốt vô lượng, thọ mệnh vô lượng, trí tuệ thông thiên địa. Ngài sẽ giúp bạn giải trừ mọi phiền não, nhọc nhằn vất vả, có khả năng sáng tạo, đem lại lợi ích cho cả gia đình và xã hội, góp công xây dựng sự nghiệp nhà Phật, từ bi hỉ xả cho chúng sinh.

Thursday, October 3, 2024

NUÔI LỚN BỐN VỊ BỒ TÁT TRONG TA



(Trích trong pháp thoại này 15-00-1998 của Sư Ông Làng Mai)


Bốn lời quán nguyện hướng về bốn vị bồ tát lớn: bồ tát Quan Thế Âm, bồ tát Văn Thù, bồ tát Phổ Hiền và bồ tát Địa Tạng là để đánh động những hạt giống vững chãi, thảnh thơi và hiểu biết trong mỗi chúng ta. Ban đầu những vị bồ tát lớn như Quan Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền và Địa Tạng có thể được nhìn nhận như những vị bồ tát ở ngoài ta. Nhưng nếu thực tập tinh chuyên và vững chãi ta sẽ thấy được những vị bồ tát đó đang ở trong ta và ta cũng có những hạt giống của các vị bồ tát ấy.


Đức Bồ tát Quán Thế Âm


“Lạy đức Bồ Tát Quan Thế Âm, chúng con xin học theo hạnh bồ tát, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ“. Khả năng lắng nghe của con đang còn yếu kém. Mỗi khi buồn giận, con không có khả năng lắng nghe người kia một cách sâu sắc được. Vậy nên những lúc như vậy con rất cần tới ngài, con cần thực tập như ngài. Chúng ta biết chỉ cần lắng nghe người khác trong vòng một giờ đồng hồ với tất cả trái tim thì người kia đã bớt khổ nhiều rồi. Vậy mà ta không biết cách nuôi dưỡng khả năng lắng nghe của mình. Thực tập lời quán nguyện này là thực tập khả năng lắng nghe. “Con xin học theo hạnh bồ tát“, nghĩa là con xin bắt chước bồ tát, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ. “Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu“. Nghe ở đây không phải là nghe bằng hai tai mà nghe bằng trái tim. Nghe như vậy thì mới có thể hiểu được, và khi hiểu được rồi thì khổ đau của người kia sẽ tự nhiên nhẹ bớt. Người đau khổ nhất trên đời là người có cảm tưởng rằng không ai hiểu được mình. Giờ phút có một người chứng tỏ là đã hiểu được mình, và nghe được mình, thì cái khổ đau đó không còn lớn lao như trước nữa. Cho nên trong số chúng ta nếu ai tìm ra được một người có thể nghe mình và hiểu được mình thì người đó được xem như là đã có hạnh phúc. Ta phải tự đào luyện mình thành một hành giả biết nghe và biết hiểu.


Khả năng biết nghe và biết hiểu là khả năng của đức bồ tát Quan Thế Âm và của bồ tát Văn Thù Sư Lợi. Câu này cho chúng ta thấy đức Văn Thù Sư Lợi nằm ở trong đức Quan Thế Âm. Biết nghe tức là biết hiểu, biết hiểu tức là biết nghe, Quan Âm và Văn Thù không phải là hai thực thể riêng biệt. Văn Thù là hiểu mà Quan Âm là nghe. Trong Quan Âm có Văn Thù, trong Văn Thù có Quan Âm. Đó là sự tương tức của hai vị bồ tát lớn. “Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con“. Chú tâm ở đây là định. Nghe thì thân và tâm phải nhất như, mình phải có mặt thật sự. Hoàn toàn có mặt trong giây phút hiện tại để lắng nghe một cách đích xác. Thành khẩn ở đây cũng chỉ có nghĩa là có mặt hoàn toàn. Mỗi người trong chúng ta ai cũng đều có thể làm được như vậy, nhưng chúng ta chưa chịu làm đấy thôi. Chúng ta ai cũng biết thở. Khi thực tập thở có ý thức ta đưa thân và tâm về một mối, để ta có mặt thật sự trong giây phút hiện tại. Ta không đánh mất ta trong tương lai, trong quá khứ, ta có mặt hoàn toàn trong giây phút hiện tại để lắng nghe người kia.


“Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến“. Thành kiến là những ý kiến đã có sẵn trước. Vì có những ý kiến có sẵn trước rồi nên những điều đang nói không lọt được vào tâm hồn mình. Mình bóp méo tất cả những điều người kia nói. Đức Quan Thế Âm là người biết nghe với tâm không thành kiến. Chúng ta còn có những thành kiến. Khi nghe chúng ta thường bị những thành kiến đó bít lấp và vì vậy ta không chấp nhận và không hiểu được người kia. Thành kiến ở đây là những vọng tưởng mà ta đã chứa chấp sẵn. Tu tập thiền quán là để đả phá những thành trì của thành kiến và cố chấp. Nếu không phá được thành trì của thành kiến và cố chấp thì ta sẽ khổ, và ta sẽ làm cho người khác khổ. Do đó thực tập nghe với tâm không thành kiến là một phương pháp tu hành rất sâu sắc. “Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng“. Chúng ta có tập khí muốn làm quan tòa. Nghe cái gì là muốn phán xét liền, giống như một bức tường hất trái bóng trở lại. Đó là một tập khí xấu. Chúng ta đừng làm một bức tường. Chúng ta phải làm không gian để khi trái bóng được liệng tới thì ta có thể tiếp đón được. Phạm Duy có một bài hát “Em là khoảng trống cho tình đong vào”. Nếu mình là bức tường thì làm sao trái bóng có thể đi vào được. Phải làm khoảng trống thì mới có thể lắng nghe.


Có một câu chuyện thiền: Một ông giáo sư triết học tới tham vấn với một vị thiền sư. Trong khi vị thiền sư pha trà, thì ông giáo sư cứ nói liên tục không ngừng. Vị thiền sư muốn dạy cho ông giáo sư một bài học. Ngài rót trà vào ly, và không ngừng rót làm nước trà tràn ra ngoài chén, để trà tràn ra khay, rồi tràn ra bàn. Lúc đó ông giáo sư mới ngừng nói lại và la lớn: “Thôi đừng rót nữa! Thầy không thấy sao, nước tràn ra ngoài như vậy mà cứ rót hoài”. Thiền sư ngưng lại, nhìn lên vị khách quý mỉm cười và nói: “Ông giáo sư cũng đầy như chén trà vậy, làm sao tôi có thể rót thêm trà vào được nữa. Làm sao tôi có thể nói cho ông nghe chút gì về thiền được?”


“Chúng con xin tập ngồi nghe để hiểu“. Mục đích ngồi nghe là để hiểu. Ta có những cái mê muội trong ta. Khi biết nghe thì nghe những lời nói đúng ta hiểu, mà nghe những lời nói sai ta cũng hiểu. Nghe điều gì ta cũng quán chiếu điều đó. Người ta nói đúng mình cũng học được, nói sai mình cũng học được. Mình học được trong chiều sâu, mình biết tại sao người ta nói như vậy. “Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói“. Có những điều người kia nói ra không được, tại vì họ không có khả năng nói. Khi một thiền sinh có những nỗi khổ niềm đau tới với chúng ta, lúc đầu họ làm như không có nỗi khổ niềm đau nào hết. Nhưng khi đã thực tập vài ngày, cảm được tình thân của ta thì họ bắt đầu nói ra được những khổ đau của họ. Tuy nhiên, họ vẫn giấu không dám nói tới điểm chính, mà chỉ nói những điểm xung quanh thôi. Họ ít dám nói thẳng niềm đau của họ. Ta phải lắng nghe rất kỹ để không những nghe được điều họ đang nói mà còn nghe được những điều họ chưa dám nói. Nếu ta khéo léo hỏi đúng một câu thì họ òa lên khóc và nói cho ta tất cả sự thật. Một cặp vợ chồng nọ có khó khăn với nhau, người vợ tới không nói thẳng là mình có khó khăn với chồng, chỉ nói tới những khó khăn của riêng mình và của các con thôi. Bởi vì cảm thấy ngại ngùng khi phải thổ lộ với một người ngoài rằng tôi có khó khăn với chồng tôi. Chỉ khi tin tưởng lắm thì họ mới dám nói. Do đó khi  ngồi nghe, nếu ta không nghe bằng tất cả trái tim thì  không thể hiểu được, không thể hỏi được những câu hỏi khiến cho người kia bật ra sự thật.” Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi chúng con cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi“.


Bồ tát lắng nghe làm cho người bớt khổ. Lắng nghe là một phương pháp mầu nhiệm để thiết lập lại sự cảm thông. Trong thời đại chúng ta có những phương tiện truyền thông rất hiện đại như email, fax, điện thoại,… Chỉ cần nửa phút thôi là có thể gởi tin tức tới những nơi rất xa, trong khi đó sự truyền thông giữa những người thân trong gia đình đã trở nên khó khăn. Truyền thông giữa cha con, anh em, vợ chồng hầu như bị cắt đứt. Nền văn minh của chúng ta đang bị phá sản về phương diện đó. Đời sống gia đình không hạnh phúc, giao hảo quốc tế giữa nước này và nước khác trở nên khó khăn, những sắc tộc khác nhau trong một thành phố chống báng và kỳ thị nhau. Cá nhân cũng như đoàn thể không có khả năng truyền thông với nhau nên nảy sinh ra những chống đối, những hiểu lầm. Do đó hạnh tu của bồ tát Quan Thế Âm rất thiết yếu. Ai cũng phải học hạnh lắng nghe để có thể thiết lập lại sự truyền thông.

 

Đức Bồ tát Văn Thù Sư Lợi


“Lạy đức bồ tát Văn Thù Sư Lợi, chúng con xin học theo hạnh bồ tát biết dừng lại và nhìn sâu vào lòng sự vật và vào lòng người”. Trong đời sống hiện nay, chúng ta chỉ quen “chạy”. Chúng ta chạy trong lòng, chạy như bị ma đuổi. Tuy đang ngồi uống trà hoặc đang ăn cơm ta vẫn tiếp tục chạy, vì thế ta không thấy được sự thật đang xảy ra. Muốn nhìn sâu và hiểu rõ thì chúng ta thì phải dừng lại. “Dừng” là chỉ, “thấy” là quán. Đức bồ tát Văn thù là người thực tập thiền quán, ngài biết dừng lại và biết nhìn sâu. Biết dừng lại và nhìn sâu vào lòng sự vật và vào lòng người. Lòng người là lòng mình và lòng những người xung quanh mình. Lòng đây là những tâm hành như ghét, thương, vui, buồn, giận, sợ hãi, chán nản, hy vọng… tất cả những tâm tư ấy là đối tượng của cái nhìn. Thực tập nhìn như thế nào để thấy được chiều sâu của các tâm hành. Muốn nhìn sâu thì phải dừng lại.


Trong khi ngồi, khi đi, khi đứng, khi ăn cơm ta phải thực tập dừng lại. Có thể là mình đang ngồi ăn cơm cùng với đại chúng cả trăm người. Trong số đó có những người đã thực sự dừng lại được để ăn cơm, nhưng một số khác vẫn tiếp tục rong ruổi. Chúng ta chạy đi đâu mà chạy dữ như vậy? Vào giờ ăn mà vẫn còn chạy nữa? Nếu không có khả năng dừng lại thì làm sao có khả năng có hạnh phúc? Hãy dừng lại trong khi ăn cơm. Trong khi ăn cơm ta chỉ ăn cơm mà thôi. Anh có thể làm được chuyện đó không, chị có làm được chuyện đó không? Chúng ta đã chạy trong bao nhiêu đời, trong bao nhiêu kiếp rồi? Bây giờ có cơ hội này, vậy mà ta cũng còn chạy nữa. Tại sao ta không ngồi ăn cơm cho đàng hoàng, tại sao ta không ngồi uống trà cho đàng hoàng, tại sao ta không ngồi thiền cho đàng hoàng, không đi thiền cho đàng hoàng? Thiền hành tuy là đi nhưng mà cũng một pháp môn thực tập để dừng lại.


Thiền chỉ và thiền quán là bản chất của sự thực tập. “Chúng con xin tập nhìn bằng tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con“. Chú tâm và thành khẩn tức là có mặt thật sự. Thân, khẩu và ý hợp nhất. “Chúng con xin tập nhìn với con mắt không thành kiến“. Phải phá đổ hàng rào của thành kiến và cố chấp thì ta mới có thể thấy được. Một người Do Thái khi nhìn một người Palestinien thì phải nhìn bằng cách ấy mới thấy được những sợ hãi, khổ đau và ước mơ của người Palestinien. Một người Palestinien khi nhìn một người Do Thái cũng phải nhìn bằng cách ấy mới thấy được những sợ hãi, đau khổ và những ước mơ của người Do Thái. Nếu cả hai bên đều có thể nhìn nhau một cách sâu sắc như vậy thì sẽ thấy rằng bên nào cũng tội nghiệp, bên nào cũng có sợ hãi, hận thù, cũng bị trấn ngự bởi cảm giác không có an ninh. Và khi cả hai bên đều thấy được như vậy thì mới phát kiến ra được sự thật là nếu cứ tiếp tục trừng phạt nhau thì tình trạng sẽ không đi đến đâu. Chi bằng cùng nắm tay nhau ngồi xuống để tìm ra một giải pháp thiết lập lại truyền thông. Nếu người Do Thái và người Palestinien chưa làm được thì chúng ta-những người không phải là Do Thái hay Palestinien, chúng ta phải làm được với nhau. Để rồi chúng ta có thể tới với họ và giúp họ. Nếu có hai người không tới được với nhau, không hiểu nhau thì ta phải đến với cả hai người để giúp cho hai người đó dừng lại việc làm khổ nhau, và tập lắng nghe nhau, nhìn nhau bằng con mắt không thành kiến. Lắng nghe bằng lỗ tai không thành kiến và nhìn bằng con mắt không thành kiến là một phương pháp thực tập rất quan trọng.


“Chúng con xin tập nhìn mà không phán xét, không phản ứng“. Chúng ta không nhìn bằng con mắt của quan tòa, chúng ta phải nhìn bằng con mắt của người thương. Chúng con nguyện tập nhìn sâu để thấy và để hiểu những gốc rễ của mọi khổ đau. Đây là thực tập Tứ diệu đế. Khổ đau có mặt. Nhìn sâu vào khổ đau để thấy và để hiểu được gốc rễ của nó. Để thấy được tự tính vô thường và vô ngã của vạn vật. Khi thấy được tự tánh vô thường và vô ngã là tự nhiên ta có thể thay đổi cái nhìn và ta chấp nhận được người khác một cách dễ dàng. Tôi với anh không phải là hai thực thể riêng biệt. Nếu anh còn khổ thì tôi còn khổ, nếu tôi còn khổ thì anh còn khổ. Vì vậy chúng ta phải nương vào nhau và giúp đỡ nhau thay vì trách móc hay trừng phạt nhau. “Chúng con xin học theo hạnh bồ tát dùng gươm trí tuệ để đoạn trừ phiền não“. Phiền não tức là tham, sân, si, mạn, nghi và tà kiến. Phiền não ở đây chỉ có thể bị chặt đứt bằng thanh gươm của trí tuệ. Đức Văn Thù có thanh gươm ấy. Ngày xưa dưới cây bồ đề đức Thế Tôn đã dùng thanh gươm ấy. Và giờ đây chúng ta đã được trao truyền thanh gươm ấy. Đó là phương pháp chỉ và quán. Tức là dừng lại và nhìn sâu. Nhìn sâu để thấy bản chất của khổ đau. Nếu không dùng thanh gươm chỉ và quán chúng ta sẽ không đoạn trừ được những sợi dây phiền não đang trói buộc ta. Nếu ta đang khổ, đó là tại vì ta đang bị trói buộc bởi những sợi dây của thèm khát, của giận hờn, của thù oán, của ngã mạn. Và ta phải thực tập ngày đêm để chuyển hóa những tập khí đó.”Dùng gươm trí tuệ để đoạn trừ phiền não, giải thoát khổ đau cho chúng con và cho mọi giới“. Nếu mình không có khả năng tự cởi trói cho mình được thì làm sao mong cởi trói cho người khác?

 

Đức bồ tát Phổ Hiền


“Lạy đức bồ tát Phổ Hiền, chúng con xin học theo hạnh nguyện của bồ tát, biết đem con mắt và trái tim đi vào cuộc sống“. Ta đi vào cuộc sống với hành trang nào, nếu không phải với con mắt và trái tim của ta? Con mắt nào có thể đem vào cuộc đời nếu không phải là con mắt của Văn Thù Sư Lợi? Nếu không có con mắt ấy, đi vào cuộc đời ta sẽ bị cuộc đời kéo theo như một dòng nước lũ. Anh đã có con mắt ấy chưa, em đã có con mắt ấy chưa? Nếu chưa có con mắt ấy thì đừng nên vội vã đi vào trong cuộc đời để trở thành chàng dũng sĩ trong truyện Cửa Tùng Đôi Cánh Gài. Ta phải có con mắt của bồ tát Văn Thù và trái tim của bồ tát Quan Thế Âm để đi vào đời. Mà có con mắt của Văn Thù và trái tim của Quan Thế Âm thì ta cũng trở thành bồ tát Phổ Hiền, nghĩa là mình có bàn tay hành động của bồ tát Phổ Hiền. Trong bồ tát Phổ Hiền có bồ tát Quan Âm và bồ tát Văn Thù. Các vị bồ tát có mặt trong nhau. Chúng con nguyện buổi sáng dâng niềm vui cho người, buổi chiều giúp người bớt khổ. Đạo pháp không phải là vấn đề miệng lưỡi, đạo pháp là vấn đề thực tập. Anh làm sao để buổi sáng có thể đem đến niềm vui ít nhất cho một người, và buổi chiều ít nhất làm cho một người bớt khổ. Những điều anh nói không đủ để tạo ra sự chuyển đổi. Ta đâu cần làm gì nhiều. Chỉ cần đi, đứng, nằm, ngồi, ăn sáng cho có chánh niệm là đã có thể mang đến niềm vui cho rất nhiều người. Khi trả lời cho anh, cho em, ta trả lời với một nụ cười, đó đã là trái tim của sự thực tập.


“Chúng con biết hạnh phúc của người chính là hạnh phúc của mình, và nguyện thực hiện niềm vui trên con đường phụng sự“. Đây là một câu nói diễn tả được giáo lý của Làng Mai: “hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhân”. Trong liên hệ giữa mình và người kia, nếu kẻ kia khổ đau thì sao mà mình có hạnh phúc cho được. Làm cho người kia nở được nụ cười là mình đã thấy nhẹ trong lòng. Trên con đường lý tưởng, phải làm sao cho con đường ta đi trở thành  con đường vui, bởi nếu không vui thì tu để làm gì? Điều này phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ngoài đời người ta đã rầu rĩ khổ đau rồi, mình đi tu mà cũng rầu rĩ khổ đau nữa thì đâu có thể giúp đỡ được ai? Trong bài Quy Nguyện có câu: “Tăng là đoàn thể đẹp, cùng đi trên đường vui”. Ngày nào cũng cần chế tác niềm vui. Nếu chưa biết làm cho mỗi giây phút trong đời sống hằng ngày trở thành một giây phút an lạc thì mình chưa nắm được phép tu. Tu cùng nhau là hợp tác với nhau để tạo ra niềm vui trong đời sống hằng ngày. Ta sẽ được nuôi nấng bởi những niềm vui ấy. Tu là nghệ thuật chế tác niềm vui và chuyển hóa khổ đau. Phải đem tài năng và sáng kiến của mình ra để áp dụng trong sự tu tập. Làm sao để mỗi ngày là mội hội vui, mỗi ngày là một ngày tết.


“Chúng con biết mỗi lời nói, mỗi cái nhìn, mỗi cử chỉ và mỗi nụ cười đều có thể đem lại hạnh phúc cho mình và cho người.” Chúng ta giàu có hơn chúng ta nghĩ. Mỗi cử chỉ đều có thể đem lại hạnh phúc cho người, vậy mà mình cứ quen thói hà tiện. “Chúng con biết rằng nếu chúng con siêng năng tu tập thì tự thân chúng con là một nguồn an lạc bất tuyệt cho mọi người và cho cả muôn loài“. Ta rất giàu có, ta có thể bố thí, có thể đem lại niềm vui cho rất nhiều người, có thể ban tặng hạnh phúc cho mọi loài. Chỉ cần sống tỉnh thức để bồ tát Quan Âm có mặt trong trái tim, để bồ tát Văn Thù có mặt trong đôi mắt, thì tự nhiên những cử chỉ, những hành động, những lời nói của ta sẽ tạo ra niềm vui cho mình và cho mọi người.

 

Đức bồ tát Địa Tạng


“Lạy đức bồ tát Địa Tạng, chúng con xin học theo hạnh bồ tát, tìm cách có mặt ở bất cứ nơi nào mà bóng tối, khổ đau, tuyệt vọng và áp bức còn đang trấn ngự để có thể đem đến nơi ấy niềm tin, hy vọng và giải thoát. Chúng con nguyện không bao giờ quên lãng và bỏ rơi những người còn đang bị kẹt trong những tình huống tuyệt vọng, nguyện cố gắng thiết lập liên lạc với những ai không còn lối thoát, những ai còn bị bưng bít không có phương tiện lên tiếng kêu gọi công bình nhân phẩm và quyền được làm người“. Có những người đang ngồi dưới đáy vực thẳm nhưng không có cách nào để có thể truyền thông được với bên ngoài, có những người đang bị kẹt vào những tình huống khó khăn và tuyệt vọng. Hiện giờ trên thế giới có rất đông những người như vậy. Nếu không có bồ tát Địa Tạng thì ai có thể đem ánh sáng tới những vùng đó? Trong thế giới chúng ta có rất nhiều người trẻ muốn làm những vị bồ tát Địa Tạng, muốn đem ánh sáng tới những vùng xa xôi và sâu thẳm như vậy. Ở trong một hoàn cảnh đầy đủ về vật chất, có nhân quyền, có tự do, vậy mà chúng ta lại giận hờn nhau, ganh tị với nhau, rồi xâu xé nhau. Chúng ta đau khổ mà không biết rằng cái đau khổ của chúng ta không thấm gì so với đau khổ của những người hiện đang ở trong những  tình huống của địa ngục. Chúng ta phải tu tập như thế nào để trở thành một Địa Tạng trong vô số các vị Địa Tạng? Cánh tay của ta phải với tới được những tình trạng khổ đau và tuyệt vọng đó.


“Chúng con biết địa ngục có mặt khắp nơi trên thế giới và chúng con nguyện sẽ không bao giờ tiếp sức xây dựng thêm những địa ngục trần gian như thế.” Địa ngục có thật. Có những vị Địa Tạng đang tìm tới những nơi ấy. Có những địa ngục vắng Địa Tạng, nhưng cũng có những địa ngục bắt đầu có mặt Địa Tạng. Chúng ta phải nhận diện sự có mặt của những địa ngục như vậy ở khắp nơi trên thế giới. Không cần phải đi tới một cõi nào xa xôi mới thấy được địa ngục. Địa ngục nằm ngay bên cạnh chúng ta. Trong những thành phố lớn như Chicago, như New York, như Manila, như thành phố Hồ Chí Minh. Hoặc ngay ở Paris cũng có những vùng địa ngục. Chúng ta phải khám phá ra những địa ngục đó, để đưa bàn tay Quan Thế Âm tới. Ta phải nhờ bồ tát Địa Tạng dẫn ta tới. Đôi khi tưởng rằng ta không góp phần tạo ra các địa ngục ấy, nhưng kỳ thật có thể là ta đã tiếp tay xây dựng chúng. Ta là đồng lõa. Ta bận rộn tiêu thụ. Và trong cuộc sống hằng ngày, ta kẹt vào những nhỏ mọn, ganh tị, buồn chán mà không biết rằng có những địa ngục đang được dựng lên chỗ này hay chỗ khác. Thái độ thờ ơ bất cần của chúng ta là một yếu tố góp phần xây dựng lên những địa ngục như vậy trên trần gian. Chúng ta phải nói rất rõ là :”Con không muốn tiếp sức vào sự xây dựng những địa ngục ấy. Trái lại chúng con xin nguyện nỗ lực giải trừ những địa ngục còn đang có mặt. Chúng con nguyện tu học để đạt tới đức vững chãi và kiên trì của đất. Bồ tát“. Địa Tạng có hai đức lớn là đức vững chãi và đức kiên trì. Có vững chãi thì mới kiên trì được. Kiên trì là không dễ dàng bỏ cuộc, dù khó khăn cách mấy cũng bám lấy. “Địa ngôn kiên hậu quảng hàm tàng”. Đất “kiên” và “hậu” nghĩa là vững và dày. “Quảng hàm tàng” là có khả năng chứa đựng lớn. Trong ấy có tình thương, có sự hiểu biết, có thể nâng đỡ, có thể làm chỗ nương tựa. Đó là lời ngợi khen bồ tát Địa Tạng. “Chúng con nguyện tu học để đạt tới đức vững chãi và kiên trì của đất, để trở thành trung kiên và không kỳ thị như đất, và cũng được như đất có thể làm nơi nương tựa cho tất cả những ai cần đến chúng con.” Đất không kỳ thị, dù đổ phân rác vào đất thì đất cũng chấp nhận, đổ sữa lên đất thì đất cũng chấp nhận. Vì đất chuyển hóa được sữa, đất cũng chuyển hóa được phân rác. Đất có khả năng xả, nghĩa là không kỳ thị, không phân biệt, chấp nhận được tất cả để có thể chuyển hóa. Ta hãy tự hỏi mình là ta có khả năng làm chỗ nương tựa cho người khác hay không. Nếu thấy ta còn mong manh, đức còn mỏng, chưa có đủ vững chãi thì ta phải thực tập như thế nào để nuôi lớn thêm đức vững chãi mà làm chỗ nương tựa cho những người xung quanh.


https://langmai.org/tang-kinh-cac/bai-viet/nuoi-lon-bon-vi-bo-tat/

Tuesday, March 21, 2023

Vài nét về đạo Phật và Thiền tông Việt Nam


Ở một bài viết, post vào đêm Giao thừa năm Nhâm Dần, một ông anh - anh Phan Thanh Kiều ở Đồng Nai, người rất thân như anh em cách nay hơn 40 năm, mà tôi tình cờ gặp lại qua Internet, gợi ý tôi viết bài kế tiếp về "Thiền sư Thích Nhất Hạnh". Tôi OK, dù biết rằng để nêu thấu đáo vấn đề bài viết cần dài, sẽ khá kén người đọc, không hợp với người thích đọc ngắn trên Facebook. Nhưng thôi cứ viết, cứ post, như một người bạn nghiên cứu, dạy đại học, nói "... ở tuổi chúng ta không còn nhiều thời gian, viết được gì thì viết …". 


Tôi không phải là một Phật Tử, cũng không phải là người nghiên cứu Phật giáo, nhưng nhiều người gọi tôi là nhà văn nhiều lúc cũng cần tìm hiểu, có hiểu biết chút ít về tôn giáo để viết lách, sáng tác.


Để hiểu rõ, đúng mức về Thích Nhất Hạnh có lẻ trước hết nên nói qua về bối cảnh lịch sử của Phật giáo Việt Nam, với sự du nhập, hình thành và phát triển. Và cũng riêng nói một chút về Thiền tông Việt Nam. Sau đó thì nói về đạo Phật với đời, trong mối tương quan với chính trị, xã hội đương thời. Rồi mới nói đến tư tưởng, hoạt động hành đạo của Thiền sư Nhất Hạnh. (ở Phần 2)


Phần 1: 

VÀI NÉT VỀ ĐẠO PHẬT VÀ THIỀN TÔNG Ở VIỆT NAM 


Đạo Phật được thương nhân và tăng sĩ Ấn Độ truyền bá ở Việt Nam cách nay hơn 2000 năm. Lúc đầu dân chúng gọi Đức Phật là Bụt (Buddha), sau này đạo Phật mới thực sự phát triển và thịnh vượng dưới thời Lý - Trần (1009-1428), trở thành "Quốc đạo", tăng lữ được hưởng bổng lộc triều đình. 


Nhưng từ năm 1396, từ Triều Hồ đến nhà Hậu Lê (1427-1789), nhà Nguyễn (1802-1883) và kéo dài đến thời Pháp thuộc (1884-1945), Khổng giáo thay dần Phật giáo,  được đề cao, suy tôn. Tuy vậy, trong dân gian, những hoạt động của đạo Phật như thờ cúng, tụng kinh, cầu siêu, ăn chay, bố thí, phóng sinh … vẫn phổ biến, trở thành nếp sống văn hóa chung của người Việt.


Riêng trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh (1627-1775), đặc biệt là dưới thời các chúa Nguyễn (1558-1777), đạo Phật ở xứ Đàng Trong được tôn vinh trở lại. Nhiều chùa chiền lớn đã được xây dựng, một số vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay như chùa Linh Mụ, chùa Từ Đàm (Huế), chùa Sùng Hóa (Phú Vang)… Trong giai đoạn này, nhiều tăng sư Đại thừa trực tiếp từ Trung Hoa vào Đàng Trong giảng kinh, thành lập nhiều tổ đình. Và Huế cũng trở thành tổ đình, trung tâm sinh hoạt của đạo Phật.


Như đã nói Phật giáo xuất hiện rất lâu đời ở  Việt Nam, cách đây trên 2000 năm, rất nhiều tông phái Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa lần lượt du nhập vào Việt Nam.


Hiện nay theo các kinh của Hán Tạng thì có 11 tông phái đang hoàng pháp. Trong quá trình phát triển, Phật giáo Việt Nam tiếp nhận một số trong số đó, cả hai hệ phái Bắc tông và Nam tông, đồng thời cũng dung hợp tạo ra một hệ phái mới, hệ phái Khất sĩ.


Về hệ phái Bắc tông có Thiên Thai tông, Chơn Ngôn tông, Thiền tông, Tịnh Độ tông, Mật tông… Những tông phái này chịu ảnh hưởng của Phật giáo từ Trung Quốc nên mỗi tông phái còn chia ra nhiều dòng phái. Thiên Thai tông cũng có Thiên Thai Thiền giáo tông, Thiên Thai Giáo Quán tông…,Tịnh Độ tông có Tịnh Độ tông Việt Nam, Tịnh Độ Cư sĩ Phật học hội…  Về hệ phái Nam tông có hai cộng đồng tộc người ở Nam Bộ là người Việt và người Khmer theo đạo. Trong người Khmer, Phật giáo Nam tông gồm hai phái chính là Mahanikay và Thommayut. Trong người Việt có Phật giáo nguyên thủy Việt Nam (Theravada).


Hệ phái Khất sĩ là hệ phái riêng có tại Việt Nam, dung hợp tinh thần của hai hệ phái Bắc tông và Nam tông, do tôn sư Minh Đăng Quang khai sáng vào năm 1943. Hệ phái này cũng chia làm hai tổ chức, một dành cho tăng sĩ, một dành cho ni giới. Trước năm 1975, có Giáo hội Tăng già, Giáo hội Ni giới Khất sĩ Việt Nam.


Như vậy, phái Đại thừa (Mahayana) chiếm đa số với các tông phái Bắc tông: Thiền tông (Zen), Tịnh Độ tông, Mật tông (Vajrayana),  phái Tiểu thừa (Theravada) chỉ giới hạn ở miền Nam với các tông phái Nam tông: Phật giáo nguyên thủy, Phật đường Nam tông Minh sư đạo. Mỗi tông phái có nhiều hệ phái nhỏ.


Riêng về Thiền tông, vốn tiếp thu từ năm dòng Thiền của Trung Quốc, gọi "ngũ gia tông phái", nhưng khi sang Việt Nam, chỉ phổ biến hai dòng chính là Lâm Tế và Tào Động. 


Trong dòng phái Lâm Tế cũng có nhiều phân phái, hoặc chịu ảnh hưởng từ các bài kệ phát phái của các thiền sư Trung Quốc, nhưng cũng có bài kệ do thiền sư Việt Nam xướng xuất. Có thể kể một số phái chính đã tồn tại ở Việt Nam thuộc dòng Lâm Tế: "Lâm Tế Tổ Đạo" với bài kệ Tổ đạo giới định tông… do thiền sư Tổ Định xướng xuất, "Đạo Bổn Nguyên" với bài kệ Đạo Bổn Nguyên thành Phật tổ tiên… do thiền sư Đạo Mẫn xướng xuất, "Liễu Quán" với bài kệ Thiệt tế đại đạo… do thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán xướng xuất, "Chúc Thánh" với bài kệ Minh thiệt pháp toàn chương… do thiền sư Minh Hải Pháp Bảo xướng xuất, "Trí Huệ" với bài kệ Trí huệ thanh tịnh… do thiền sư Trí Thắng Bích Dung xướng xuất.


Thiền phái Tào Động khởi đầu là từ phép tu của Động Sơn Lương Giới và Tào Sơn Bổn Tịch (thế kỷ IX) ở Trung Hoa, quan điểm của phái này được tượng trưng bằng nghiêng và thẳng. Thẳng là tuyệt đối, chân không pháp thân, nghiêng là tương đối hiện tượng diệu hữu. Thẳng và nghiêng vốn là một. Tổ Thiền phái Tào Động Việt Nam là đại sư Thủy Nguyệt (1636 – 1704), quê ở Thái Bình, sang Trung Quốc tu học. Đến năm 1667, sau ba năm ở Trung Quốc, ngài về nước, trú tại chùa Vọng Lão, huyện Đông Triều, Hải Dương. Đại sư thành lập Thiền phái Tào Động tại Đàng Ngoài, phát triển mạnh mẽ hơn 100 năm. Về sau, tuy Thiền phái này không còn mạnh như trước, có dấu hiệu lụi dần nhưng không bị mất hẳn. Ngày nay vẫn còn khá nhiều chùa, chư tăng ni thuộc Thiền phái Tào Động ở các tỉnh thành ở miền Bắc.


Ở góc độ khác, ta hiểu Thiền tông (tiếng Trung: 禪宗; bính âm: chán-zōng), còn gọi là Phật Tâm tông là một pháp môn tu tập. Tổ sư Thiền là một tông phái Phật giáo Đại thừa xuất phát từ 28 đời Tổ sư Ấn Độ và truyền bá lớn mạnh ở Trung Quốc. Tuy nhiên các thiền sư trong Thiền tông tự coi tông phái mình tách biệt không thuộc Đại thừa hay Tiểu thừa. Khoảng một ngàn năm sau thời Đức Phật, truyền thuyết kể rằng Tổ Bồ đề đạt ma, vị Tổ thứ 28 của Thiền tông Ấn Độ và là Sơ tổ của Thiền tông Trung Hoa, đưa Thiền tông vào Trung Quốc, truyền cho Nhị tổ Huệ Khả. Dòng Thiền được nối tiếp qua Tam tổ Tăng Xán, Tứ tổ Đạo Tín, Ngũ tổ Hoằng Nhẫn và Lục tổ Huệ Năng. Thiền tông trở thành một tông phái lớn, với mục đích là "hành giả trực nhận được bản thể của sự vật và đạt giác ngộ", như Phật Thích ca Mâu ni đã đạt được dưới gốc cây Bồ đề. Tông phái này được đưa vào Việt Nam từ Trung Quốc với tên gọi là Thiền tông, và qua Triều Tiên với tên gọi là Seon, hay Nhật Bản là Zen.


Thiền tông Trung Quốc được sáng lập trong thời kì Phật pháp đang là đối tượng tranh luận của các tông phái. Để đối lại khuynh hướng "triết lý hoá", phân tích chi li các giáo lý Phật giáo của các tông khác, các vị Thiền sư bèn đặt tên cho tông mình là "Thiền" để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chứng ngộ Phật tính thông qua thực tiễn tu tập và thực chứng. Thiền tông không chủ trương phế bỏ kinh sách nhưng cũng không khuyên chấp nhặt quá vào kinh sách, kinh sách được dùng làm phương tiện để tham khảo chứ không phải mục đích đến của các hành giả Thiền Tông. Mục đích tối thượng của người tu tập theo Thiền tông là "liễu ngộ phật tính", thấu suốt bản tâm thanh tịnh của chính mình, thoát khỏi sinh tử luân hồi và sống với bản tâm thanh tịnh ấy, nếu có nhân duyên thì hoằng hóa giúp người cũng tu tập ngộ đạo, làm lợi lạc quần sinh.


Như vậy nét đặc trưng của Thiền tông là:


"Truyền giáo pháp ngoài kinh điển

không lập văn tự

chỉ thẳng tâm người

thấy chân tính thành Phật".


Bốn tính chất này được xem là do Bồ đề đạt ma nêu, nhưng cũng có người cho rằng chúng xuất phát từ Thiền sư đời sau là Nam Tuyền Phổ Nguyện (zh. 南泉普願, 749-835), một môn đệ của Mã Tổ Đạo Nhất. Giai thoại cho rằng quan điểm "Truyền pháp ngoài kinh điển" đã do Phật Thích Ca áp dụng trên núi Linh Thứu (sa. gṛdhrakūṭa). Trong pháp hội đó, Ngài im lặng đưa lên một cành hoa và chỉ có Ma ha Ca diếp (sa. mahākāśyapa), một đại đệ tử, mỉm cười lĩnh hội ý chỉ của cách "Dĩ tâm truyền tâm" (以心傳心, xem Niêm hoa vi tiếu), được Đức Phật truyền mật pháp với lời dạy: "Ta có chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền", nay trao cho "Ma ha Ca diếp". Thích Ca ấn chứng cho Ca diếp, từ đó, Thiền tông coi trọng tính chất "đốn ngộ" (zh. 頓悟), nghĩa là "giác ngộ ngay tức khắc", trên con đường tu học. Có người cho rằng đây chỉ là một giai thoại trong Văn học Thiền, chứ không hề thấy chép trong kinh điển nào.


Về "Thiền định", thực ra, rất khó định nghĩa về "thiền", về "định" một cách khái quát. "Thiền" (Phạn: dhyana, Pali: jhàna) có nghĩa là tư duy, tập trung tâm ý, tĩnh lặng, thông hội tâm mình với ngoại cảnh,  từ đó hành giả tập trung vào một đề tài, một đối tượng, đấy là "định" (S. samadhi). Như thế, nếu không kể đến mức độ sâu cạn, thì "thiền định" là phương cách tư duy của mọi người, thuộc một tôn giáo hay không tôn giáo nào chứ không riêng của Phật giáo.


Trước thời và trong thời Đức Phật, các tu sĩ Ấn Độ cũng đã rất quen thuộc với "Thiền định" và rất nhiều vị đã đạt trình độ cao, đã đạt được một số thần thông. Tam vô lậu học của Phật giáo bao gồm Giới luật, Thiền định và Trí tuệ. Như vậy, tu học Phật pháp, là tu sĩ hay tín đồ Phật giáo, đều phải thực hành "Thiền định". 


Về kinh điển Đại thừa là một sự triển khai thiện xảo, sáng tạo từ kinh điển Nguyên thủy, tạo triết học Phật giáo thành một nền triết học đỉnh cao. Thiền tông Trung Hoa cũng thế, nhưng sự triển khai này có những ghi chép sự kiện, chi tiết mang tính cường điệu, khó có thể thuyết phục, lắm khi pha lẫn với tính chất tiểu thuyết, tưởng tượng, thậm chí hoang đường, hoặc đôi khi có vẻ hung bạo, ví dụ như "Nhị tổ tự chặt tay, đứng suốt đêm ngoài tuyết để cầu đạo, Nam Truyền chém mèo để dạy chúng, Câu Chi chặt đứt ngón tay của chú tiểu…". Ngay cả tôn chỉ "bất lập văn tự" trong Pháp bảo Đàn kinh cũng không nhất quán: Tổ Huệ Năng vẫn giảng kinh Kim Cương, Bát nhã, Niết bàn, Duy ma cật... Các tông phái Thiền từ Tổ Huệ Năng trở về sau cũng không khác nhau về nội dung tu tập, đó là sự triển khai kinh Đại thừa theo cung cách đặc biệt: vô ngã, vô niệm, vô đắc, không, bất nhị, phá chấp, tâm ấn, đốn ngộ, sự tự tại, thong dong, vô vi gần như của triết lý Lão Trang.


Thiền tông Việt Nam cũng mang nội dung và hình thức tương tự, nhưng tất nhiên có một số khác biệt.


Thế kỷ thứ VI tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi từ Ấn Độ sang Trung Hoa học đạo với tổ Tăng Xán, vị Tổ nổi danh với bài "Tín tâm minh", biểu lộ tính tự tại, vô chấp, vô cầu. Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi cũng được xem là có nội dung tu tập gồm Thiền tông và Mật tông. Có lẽ các học giả về sau căn cứ vào sự việc Tỳ-ni-đa-lưu-chi dịch kinh Tượng đầu (tư tưởng Thiền), kinh Siêu việt hữu vô và kinh Tổng trì (tư tưởng Mật). Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi được xem ngang với Tổ thứ tư ở Trung Hoa là ngài Đạo Tín.


Như đã  nói, Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci, Nam Ấn) sang Trung Hoa năm 562, đệ tử của Tam Tổ Trung Hoa là Tăng Xán. Sau khi ngộ đạo, được tổ Tăng Xán dạy đi về phương Nam truyền bá Thiền tông. Đại sư sang Việt Nam năm 580 đến chùa Pháp Vân, gặp và truyền pháp cho Pháp Hiền. Thiền pháp Tỳ-ni-đa-lưu-chi kể từ Pháp Hiền thì được 18 thế hệ. Các vị đại sư kế tục Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, ngoài tư tưởng Thiền, còn là những vị nghiêng về Mật tông, với Sấm ký, pháp thuật như Sùng Phạm, Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Pháp Thuận…


Đến thế kỷ thứ IX có ngài Vô Ngôn Thông là đệ tử tổ Bá Trượng ở Trung Hoa, sang Việt Nam truyền thiền nên có phái thiền Vô Ngôn Thông. Đại sư Vô Ngôn Thông người Quảng Châu, Trung Quốc từng ngộ pháp từ câu nói của đại sư Bách Trượng (thuộc thế hệ thứ 3 từ sau Lục tổ Huệ Năng). Năm 820, đại sư đến chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng ở Bắc Ninh, truyền pháp cho ngài Cảm Thành. Từ đó, truyền được tất cả 17 thế hệ. Thiền phái này chú trọng sự đốn ngộ, Phật chính là tâm, bất nhị, vô đắc. Ngoài ra, cần kể một nét đẹp, đặc sắc của Thiền phái này là các Thiền sư thường là những nhà thơ thiền, dùng thơ để giải đáp cho người vấn đạo, mở đầu cung cách nêu thoại đầu bằng thi ca, tạo thành nét đẹp, đặc sắc trong Văn học Thiền Việt Nam: Thiền Lão (thế hệ 7), Viên Chiếu (thế hệ 8), Trí Bảo (thế hệ 11), Tịnh Không (thế hệ 11).


Sau này còn có ngài Thảo Đường khi đi hành hóa bị vua Lý Thánh Tông bắt đem về Đại Việt năm 1069 lúc đem quân chinh phạt Chăm Pa. Nhà Lý phát hiện ngài là một vị đại sư tài trí, đức độ nên rất kính phục, tôn sùng, được vua phong làm Quốc sư. Ngài Thảo Đường thuộc thế hệ thứ 8 của dòng Thanh Nguyên Hành Tư, tức là thuộc thế hệ thứ 9 của Lục tổ Huệ Năng. Ngài trở thành Tổ của phái thiền Thảo Đường ở Việt Nam, trụ trì chùa Khai Quốc tại kinh thành Thăng Long. Thiền phái gồm 6 thế hệ, trong đó có các đại sư Bát Nhã (thế hệ 2), Không Lộ, Định Giác (thế hệ 3) là các đại sư nổi tiếng của Việt Nam. Nhưng Thiền phái Thảo Đường không có sức ảnh hưởng lâu dài, bởi là Thiền phái trí thức, gồm vua quan và một số cư sĩ trí thức. Điều đáng lưu ý là Thiền phái này có sự dung hợp với Thiền phái Vô Ngôn Thông và một phần có sự ảnh hưởng của Mật tông, ví dụ trường hợp của Bát Nhã và Đại Điên, vốn đã có từ Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Thiền phái Vô Ngôn Thông.


Như vậy từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ X, Thiền tông hưng thịnh ở Việt Nam do ba hệ phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường.


Đến khi thái tử Trần Khâm tức vua Trần Nhân Tông sau này, được vua Trần Thánh Tông gởi đến Tuệ Trung Thượng Sĩ học đạo lý. Khi từ giã về, thái tử hỏi: “Mục tiêu chủ yếu của thiền là gì?”. Ngài Thượng Sĩ trả lời: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, nghĩa là "quay lại chiếu soi nơi mình, đó là phận sự chính, không phải từ bên ngoài mà được". Điều mà Thượng Sĩ nói cho vua Trần Nhân Tông nghe, đơn giản là "sự phản quan nội tâm mình để được ngộ đạo".


Sau khi đăng vị, vua Trần Nhân Tông vừa trị nước vừa nghiên cứu nội điển để tu tập. Năm 41 tuổi vua trao hết quyền hành cho con và đi xuất gia. Ông lên núi Yên Tử và rừng Trúc ở Ngọa Vân Am chuyên tu, nên có hiệu là Trúc Lâm Đại đầu đà. Sau năm năm khổ hạnh ông ngộ đạo, lập ra hệ phái thiền Trúc Lâm Yên Tử rồi truyền đạo.


Nhưng tổ khai sơn của Thiền phái Yên Tử lại là đại sư Hiện Quang (mất năm 1220), tu ở chùa Lục Tổ do đại sư Thiền Chiếu (Thiền phái Vô Ngôn Thông) trụ trì, về sau tham học với các ngài Trí Không, Pháp Giới rồi khai sơn núi Yên Tử, thường được là Trúc Lâm đại sa môn, được phong làm Quốc sư. Từ đó, truyền thống Trúc Lâm Yên Tử được hình thành. Sau khi đại sư Hiện Quang tịch, nối tiếp truyền thống Trúc Lâm là Đạo Viên (thầy của vua Trần Thái Tông), Đại Đăng (thầy của vua Trần Thánh Tông), Tiêu Diêu (thầy của Tuệ Trung), Huệ Tuệ, Trúc Lâm (tức Trần Nhân Tông), Huyền Quang, Pháp Loa... cho đến Vô Phiền, tổng cộng là 23 vị, 5 thế hệ đầu của truyền thống Trúc Lâm Yên Tử, nổi bật về cung cách tu tập Thiền tông chỉ gồm vua Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, nhưng hai vị này là cư sĩ và không cụ thể truyền pháp cho ai. Sự truyền thừa chỉ gần như là nối nghiệp trụ trì. Đến Trúc Lâm đầu đà Điều Ngự Trần Nhân Tông, vị vua anh minh, vị Thái thượng hoàng cao quý, bỏ ngai vàng để thành Sa môn, đại Thiền sư, lập Thiền am trên núi Yên Tử, trở thành vị Tổ của 17 đại sư thuộc 17 thế hệ sau của truyền thống Trúc Lâm.


Đất nước và Phật giáo Đại thừa phát triển mạnh mẽ, rực rỡ nhất vào thời nhà Trần, tức vào thời Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được thành lập. Nội dung thực hành chủ yếu nhằm vào tư tưởng của Trần Thái Tông, Tuệ Trung, Sơ tổ Trúc Lâm, Nhị tổ Pháp Loa và Tam tổ Huyền Quang: Phật tại tâm, Chân tâm, Bất nhị, Sự thong dong tự tại, Ý nghĩa truyền tâm, truyền y bát. Đặc biệt, Thiền phái này có lối ứng cơ tiếp vật qua các thoại đầu, chen lẫn thơ ứng khẩu nhưng nội dung thực hành thì không khác với Thiền tông Trung Hoa, lại có sự pha trộn ít nhiều với Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông.


Như vậy có thể nói hệ phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời tiếp nhận tinh hoa từ ba hệ phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, kết tụ thành hệ phái thiền thuần túy Việt Nam. Từ khi có hệ phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời, các hệ phái Thiền khác, vào thời  này đều vắng mặt, ]không còn phát triển nữa. Nhưng từ thế kỷ thứ XIII đến thế kỷ thứ XV nhà Trần mất, nhà Lê lên không chấp nhận Phật giáo, thượng tôn Nho giáo. Từ đó hệ phái Trúc Lâm Yên Tử cũng suy yếu dần. 


Một số học giả cho rằng Thiền sư Chơn Nguyên (mất 1722) đã phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử vì ngài là người được truyền thừa y bát Trúc Lâm. Nhưng ngoài việc ngài và các đệ tử trú tại Trúc Lâm, trùng san một số sách đời Lý Trần, lại không thấy chủ trương tu tập của ngài giống với Trúc Lâm, nên cơ sở lập luận này không vững chắc. Gần đây, Hòa thượng Thích Thanh Từ từ 1971 đến 2011 đã xây dựng khoảng 40 Thiền viện, được cho rằng ngài khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Công lao, trí tuệ, đạo đức của ngài là rất lớn, nhưng qua sinh hoạt của các Thiền viện vẫn không mang được sắc thái của truyền thống Trúc Lâm.


Chúng ta trở lại dòng Thiền Lâm Tế ở Việt Nam. Như đã biết trong lịch sử, đến thế kỷ XVIII, XIX Việt Nam chia làm hai, Đàng Trong và Đàng Ngoài. Đàng Ngoài có vua Lê, Đàng Trong thì chúa Nguyễn. 


Đàng Trong chúa Nguyễn thỉnh các Tổ từ Trung Hoa thuộc hệ phái Lâm Tế sang truyền bá Phật pháp, như ngài Nguyên Thiều. Đàng Ngoài vua Lê cũng thỉnh các Tổ thuộc hệ phái Lâm Tế hoặc Tào Động như ngài Chuyết Công… Đến nhà Nguyễn, các Tổ cũng đều chịu ảnh hưởng của hệ phái Lâm Tế.


Nói chung ở nước ta, từ thế kỷ thứ III mãi cho đến ngày nay, các Tổ tu thiền, đa số thờ kính tổ Lâm Tế. Tổ Lâm Tế hiệu Nghĩa Huyền, ở cuối đời Đường. Ngài phát tâm tu, bình nhật ít nói nhưng hiểu đạo sâu xa thâm thúy. Ngài tới hội của Thiền sư Hoàng Bá - Hy Vận, tức đời thứ tư sau Lục Tổ Huệ Năng. Là người nhiệt tâm cầu đạo, tu hành cẩn mật, hạnh kiểm, nên ai cũng kính nể. Ngài ngộ được yếu chỉ đại ý Phật pháp là "chỗ vô ngôn".. Lâm Tế nổi tiếng là con người kỳ đặc trong giới Thiền sư.


Một số sách về lịch sử Thiền Việt Nam cũng đã ghi rằng, "từ thời chúa Nguyễn Hoàng (1559-1613), khoảng mười vị sư từ Trung Quốc sang Việt Nam, đến các tỉnh Quảng Trị, Thuận Hóa (Huế), Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên… lập chùa, phần lớn là thuộc dòng Thiền Lâm Tế. Thuận Hóa là kinh đô nên nhiều thiền sư đến hoằng hóa. Đáng kể nhất là đại sư Minh Hoằng Tử Dung (nguyên quán Quảng Đông, đời thứ 34 dòng Lâm Tế) khai sơn chùa Ấn Tôn, truyền Thiền Lâm Tế cho Đại sư Liễu Quán, một Thiền sư Việt Nam vào năm 1708. Ngài Liễu Quán (mất năm 1793) trở thành Tổ của dòng Lâm Tế Việt Nam và thuộc thế hệ 35 dòng Lâm Tế, người xây dựng, trú trì các chùa Thiền Tông, Viên Thông ở Thuận Hóa, Hội Tông, Cổ Lâm, Bảo Tịnh tại Phú Yên. Thiền phái này vẫn theo truyền thống truyền tâm, truyền công án, thoại đầu".



Tóm lại, ngoài Tào Động, hệ phái Lâm Tế  là một trong hai hệ phái quan trọng trong Thiền tông Việt Nam. Đến nay, Thiền phái này vẫn tồn tại nhiều nhất tại Thừa Thiên Huế. Đại sư Thích Nhất Hạnh, xuất thân từ chùa Từ Hiếu, thuộc thế hệ thứ 8 dòng Liễu Quán và thứ 42 dòng Lâm Tế, người đã phát triển Thiền Việt Nam ở hải ngoại, trở thành vị Thiền sư nổi tiếng khắp thế giới, ngài từng có những hoạt động chống chiến tranh, được nhà lãnh tụ da đen của Mỹ, Martin Luther king, Jr. đề nghị giải Nobel về hoà bình. (Chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu về Thiền sư Thích Nhất Hạnh ở phần 2 của bài viết).


Ở trong nước có Thiền sư Thích Thanh Từ, trước ngài ở trong đoàn Như Lai sứ giả của Giáo hội Tăng già Nam Việt, cùng với ngài Huyền Vi đi thuyết pháp khắp lục tỉnh. Sau này Thiền sư Thanh Từ chuyên giảng dạy về thiền. Ngài lập ra những tu viện Chơn Không, Thường Chiếu, Linh Chiếu... Cả hai vị Thiền sư Nhất Hạnh và Thanh Từ, thập niên 50 và 60 đều có ở chùa Ấn Quang, và có am thất ở vùng Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.


Các Thiền phái Việt Nam đều xuất phát từ Trung Hoa, dĩ nhiên mang đậm tính chất Thiền Trung Hoa, nhưng cũng có những điểm riêng của Thiền Việt Nam. 


Như Thiền Việt Nam không phân biệt các đặc điểm của từng Thiền phái, không phải vì các đại sư Trung Hoa theo Thiền phái nào của Trung Hoa mà các Thiền phái Việt Nam phải theo đúng phương cách tu tập của Thiền phái ấy. Thiền tông Việt Nam không chú trọng "bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền" mà chú trọng vào sự tĩnh lặng, an định tâm thức để tiến đến sự lĩnh hội tâm mình, nhận biết khổ, vô ngã, vô thường mà Đức Phật đã dạy. Các đại thiền sư Việt Nam thường là thi sĩ, những học giả tạo ra nhiều tác phẩm nghiên cứu, luận giảng Phật học. Các công trình của chư vị là đóng góp lớn lao cho Phật giáo cũng như cho Văn học Việt ...

Nguyễn Đông A

(Còn tiếp - Phần 2)