Monday, March 18, 2024

TÔ PHỞ 

 



Truyện: Ngô Đình Hải


Vậy là hắn được tha về. Thứ gì của hắn còn xài được, hắn để lại hết cho anh em. Trong này quý. Chỉ giữ lại bộ đồ duy nhất mặc trên người.


 Miếng giấy ra trại xếp làm bốn, nhét mấy chục ngàn vô giữa, hắn cắm đầu đi thẳng. Không ngó lại. Tuyệt đối không ngó lại. Là mấy tay ở tù nhiều lần dặn vậy. Lưu luyến gì? Tiếc rẻ gì? Nhìn lại lỡ có huôn. Mình không nhớ nó, nhưng nó nhớ mình, nó khiến cho có chuyện vô lại thì sao? 


Chưa có một dự tính nào trong đầu, nhưng hắn tự hứa với mình. Sẽ không bao giờ! Không bao giờ, trở lại nơi này lần nữa. Về đã! Về rồi tính tiếp.


 Chỉ cần nhảy lên hai chuyến xe đò là hắn tới quê. Là thấy được con mương trước nhà. Thấy hàng so đũa và cái mái lá xác xơ. Không biết má hắn giờ ra sao? Lâu lắm rồi không thấy bà lên thăm. Hắn đã nghĩ tới tình huống xấu nhứt. Hay bà chết rồi không chừng. Mấy năm trước, lúc mới vô tù, bà có lên thăm nuôi hắn đâu được một, hai lần rồi thôi. Thấy yếu lắm. Nói chuyện với hắn như trối! Câu nào cũng đầy nước mắt. Lớp già, lớp nghèo, sống lủi thủi một mình, thêm lớp nhớ con, bà như cây đèn chông lắc lư trước gió hằng đêm, tắt hồi nào không hay! Hắn đã sợ hãi khi nghĩ tới điều này. Sợ còn hơn lúc người ta tuyên án 3 năm tù ở với hắn. Hắn ăn năn, hắn hối hận, hắn tự nguyền rủa con người mình, ngày này qua ngày khác. 


Ngày tháng ở tù thì kéo dài tưởng chừng như vô tận. Hắn chai lỳ với mọi cảm xúc, chịu đựng vượt mức mọi thứ, để chờ ngày hôm nay. Ruột hắn nóng như lửa đốt, mà cái xe đò cứ rề rề, chạy rồi ngừng, ngừng rồi chạy liên tục. Tới thành phố thì đã quá trưa.


Chỉ cần thêm 2 chuyến xe nữa là hắn đã có mặt ở nhà. Hắn hối hả tìm trạm xe buýt ra bến xe miền Tây. Miệng khô khốc, bụng đói cồn cào. Hắn dừng lại ở thùng bánh mì từ thiện, may mắn không chào đón hắn, thùng bánh mì trống trơn. Hắn uống liền 2 ca trà đá ở cái bình nước miễn phí đặt gần đó. Đầu hắn quay cuồng, cái đói ở đâu kéo tới thiệt lẹ. 

Hai chân hắn bắt đầu run. Con đường trước mặt như quen như lạ. 


Đã có một thời hắn kiếm miếng ăn trên những con đường. Hắn khéo tay. Không có cái khoá xe nào mà hắn cần quá 1 phút để mở. Hắn mở khoá xe điệu nghệ như một nhà ảo thuật. Cái điệu nghệ đưa tới một án tù! Với hắn, trộm cắp cũng phải có nghệ thuật và nguyên tắc riêng của nó. 


Thứ nhứt, không chôm...xe cùi bắp! Bán chẳng được bao nhiêu, phí một lần ra tay. Lại nữa, chủ nhân thường là những người nghèo. Chiếc xe là cái cần câu cơm, là cả một gia tài. Mất đi, lập tức...đời là bể khổ! Chôm không đành.


 Thứ nhì, có lựa xe dữ, thì cũng không chơi ở mấy cửa hàng, trường học. Ở đó có người coi, có bảo vệ. Khó chơi đã đành. Chơi được, thì nạn nhân không phải người mất xe, mà là chính họ. Những người đi làm cái nghề giữ xe được mấy đồng bạc. Đền một chiếc xe là mạt, là ăn mày. Kẹt mấy cũng đừng chơi! Tội...


Ngon nhứt là canh me chôm trước cửa nhà, chôm của mấy tay có tiền, chạy xe xịn đi ăn chơi, mua sắm. Ăn hàng xong là nhẹ nhỏm, là khỏi băn khoăn, thắc mắc...


Hắn lắc lắc đầu, cố thoát ra khỏi cái ám ảnh ngứa nghề để đi tiếp. Ngẩng lên, thấy ngay tấm bảng đập vô mắt:


“Phở bình dân. Tái Nạm Gàu Gân. 35k 1 tô”. 


Xe phở đặt phía trước tiệm. Thùng nước lèo kế bên. Mấy tảng thịt bò treo lủng lẳng bắt mắt.


 Không nhớ đã bao lâu hắn không được ăn phở. Thèm và đói. Cái đói réo gọi. Đói dữ dội. Đói chảy nước mắt. Đói leo qua sức chịu đựng của hắn. Hắn lôi tiền ra đếm. Còn vỏn vẹn 30 ngàn về xe. Hắn cay đắng. Hắn bực tức. Tô phở bốc khói nhảy vô đầu hắn ngồi. Tô phở vực cái thói quen cũ trồi dậy. Hắn bắt đầu quan sát. Phố xá đông đúc, hàng quán san sát, xe gắn máy đậu dài hai bên lề đường.


 Hắn tản bộ thêm một đoạn, ngó mấy cái ngã tư, tính toán đường thoát. Hắn nhìn quanh quất, phải kiếm đồ nghề trước. Cái này thì dễ. Gần đèn xanh, đèn đỏ, có một tiệm sửa xe. Hắn lượm một cây căm xe cũ. Lượm thêm một cục đá xanh làm búa.


 Hắn ngồi ngay xuống lề đường, lo việc của mình, mặc kệ thiên hạ. Người qua lại đông, xe cộ chen nhau, không ai thèm để ý tới hắn. Thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ, biết càng thêm rắc rối chứ ích gì. Hắn bẻ gập cây căm cho ngắn lại, lấy cục đá đập dẹp cái đầu, rồi uốn, rồi mài dưới mặt đường, cẩn thận từng chút. Một bài học trong tù. Ở trong đó hắn còn làm ra nhiều thứ vật dụng quái chiêu hơn nhiều. Không có gì là không thể nếu chịu khó và kiên nhẫn. Xong, hắn đưa lên trước mặt ngắm nghía. Không ngon lắm, nhưng cũng tạm được. Dân trong nghề kêu bằng đoản, trong tay hắn là cái chìa khoá vạn năng. Hắn đút cây đoản vô túi áo. Tay hắn chạm tờ giấy ra trại. Chạm vào thực tại. Tờ giấy nhắc cho hắn cái lý do hắn ở đây. Hắn hơi chựng lại. Hắn xoè tay ra trước mặt, hai bàn tay nhạy bén như của một nghệ sĩ ngày nào, giờ xám xịt, chai sần và thô kệch. Những ngón tay cứng đơ nằm gần nhau mệt mỏi.


 Hắn hoang mang, hắn không còn đủ tin tưởng vô chúng. Hắn co duỗi, hắn nhấp thử vài lần trong không khí. Chậm và thô quá. Hắn đốt mẩu thuốc còn sót lại, hy vọng xoa dịu cơn đói. Khói thuốc làm người hắn nhộn nhạo. Hắn nhớ tới má hắn dưới quê, không biết sống chết ra sao. Một phần trong hắn lên tiếng:


- Thôi bỏ đi. Đã thề bỏ rồi mà. Làm khổ bà già nhiêu đó chưa đủ sao, thằng bất hiếu! Về! Về gấp như đã hứa. Về! Đói no gì cũng kệ, miễn là có mẹ có con. Cái nghề này đâu có bền. Sớm muộn gì cũng trở vô trỏng thôi!...


Hắn cúi xuống nhìn bộ quần áo mình đang mặc. Nhìn cái  con người thân tàn ma dại của mình. Một phần khác trong hắn lên tiếng:


- Về! Dĩ nhiên là phải về. Nhưng về trong tình cảnh này sao? Chơi đại một chiếc kiếm vốn, đua về trốn luôn ở dưới mà làm lại cuộc đời! Chơi đi, đâu có khó gì...


Hắn đứng bật dậy. Người hắn loạng choạng. Từ sáng tới giờ hắn có miếng nào trong bụng đâu! Đói chịu hết xiết. Muốn làm gì thì cũng phải ăn cái đã. Mọi chuyện tính sau.


 Tiệm phở đông nghẹt. Hắn bước vô, đứng ngay xe. Mùi phở bốc lên nồng nực, thơm phức. Cái mùi đủ làm cho người chết sống dậy. Hắn ấp úng gọi:


- Bà chủ...


Người đàn bà đứng nấu, đang tất bật với múc, chan. Mồ hôi nhể nhại. Nghe hắn gọi, không thèm ngó, sẳng giọng:


- Tui không phải chủ. Chủ ngồi trong kia kìa...


Hắn nuốt nước miếng ừng ực, nói tiếp:


- Bán cho tui tô 30 ngàn nhiều bánh được không? 


Chị ngừng tay, ngước lên nhìn hắn:


- Vô bàn ngồi đi!


Hắn tìm cho mình một chỗ trống, ngồi xuống. Tô phở đầy ắp, thịt cả đống, được thằng nhỏ bưng ra. Ngó chừng có phần còn nhiều hơn những tô khác. Hắn cắm cúi ăn, nghe từng miếng trôi qua miệng xuống bụng, nghe cái ngọt ngào của từng muổng nước lèo thấm ra da thịt. Tới lúc hắn buông đũa, thì cái tô sạch nhách, một miếng hành cũng không còn. Mắt hắn sáng lên. Người hắn phấn chấn. Hắn kêu tính tiền. Thằng nhỏ chạy lại, hắn đưa tiền. Thằng nhỏ đếm:


- Thưa, mới 30, 35 ngàn một tô...


Hắn sượng ngắt, chỉ tay về phía người đàn bà:


- Tui kêu tô 30...


Thằng nhỏ day qua ngó chị như hỏi. Vài người ngồi quanh ngó qua hắn, nghi nghi, ngờ ngờ.


 Không lẽ cái bộ dạng của hắn tệ dữ vậy sao? 


Chị rời chỗ đứng đi về phía hắn, ngó cái tô phở trống trơn, rồi ngó hắn:


- Ăn được không chú Tư? No chưa?


Hắn gật, rồi nhắc lại:


- Tui kêu tô 30...


Chị gạt ngang, cười:


- Ai chẳng có lúc quên. Cái này là tui quên chứ không phải chú quên, bỏ qua nhe!


Giọng chị nhỏ lại:


- Tui để ý chú tự nảy giờ. Về quê hả? Về đời lâu mau rồi? Mới ra hả?...


Hắn lại gật:


- Sáng nay...


Chị giằng lấy 30 ngàn trong tay thằng nhỏ, nhét sâu vào túi áo hắn, để tay ở đó một chập, rồi nói lớn:


- Đi cho kịp chuyến xe, chú Tư.


Lại Tư! Hắn cu ky một mình, có anh có em gì đâu mà Ba, mà Tư! Người đâu ngộ thiệt! Quen biết hồi nào đâu mà kêu hắn thứ Tư, trật lất.


 Hắn nhìn chị, nghẹn ngang. Lí rí cám ơn, rồi đi thẳng. 


Ngoài cửa, một cặp trai gái vừa tấp chiếc SH, nắm tay nhau đi vô, cùng lúc với hắn đi ra. Tay hắn giựt giựt. Cơ hội ngon ăn hết biết! Hắn vịn tay lên ghi đông chiếc xe, lắc nhẹ như tình cờ đi ngang bị vướng, tay kia rờ lên túi. Thò luôn tay vô trong. Tấm giấy ra trại còn nguyên. Tiền chị nhét vô còn nguyên. Cây đoản mở khoá biến đâu mất. Hắn thở dài, coi như xong! Chắc Trời khiến! 


Hắn đi thật nhanh như chạy. Tiếng chị vang theo sau lưng:


- Dzìa khoẻ nha chú Tư. Có lên chơi nhớ ghé nhe...


Chị nói mà bàn tay nắm lại, hình như có cái gì của hắn trong đó...

Sống trong đời, biết thế nào gọi là… “đủ”?


“Thế nào là đủ?” . Đó chỉ là một câu hỏi ngắn nhưng không hề đơn giản để trả lời, cũng như chẳng có sẵn đáp án chung cho tất cả mọi người…

1Ông bà ta có câu: “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm” để nói về việc “muốn ít, biết đủ”… sẽ đủ. Đủ có sự khác nhau với mỗi người, và trong từng thời điểm cụ thể của mỗi người. Thuở ấu thơ nghèo khó, lớn lên trên mảnh vườn đám ruộng hương hỏa gia đình, một bộ đồ, một manh chiếu (không lành) cùng chiếc mùng rách đôi ba chỗ cũng đủ cho một giấc ngủ yên bình. Lớn lên, đi học rồi thành đạt ở phố, trong vị trí doanh nhân, công nhân viên chức với đồng vô đồng ra dư dả, có khi nhà cao, giường nệm, một tủ đồ hiệu này, hàng xịn kia… chưa chắc đã đủ!

Thế mới có câu “Nhu cầu của con người là vô hạn”, nó vô cùng trong ước “muốn thêm, thêm nữa, thêm mãi”. Nhưng, sức người vốn có hạn. Mỗi người có bản lĩnh và khả năng khác nhau nên thành quả đạt được đương nhiên cũng khác nhau. Đó chính là cái đủ mà mỗi người phải biết để quản trị cuộc sống, công việc của mình.

Trước đây, từng có thời gian dư luận xôn xao chuyện một ca sỹ thuộc hàng diva trong làng nhạc Việt Nam dính nợ. Báo giới được một phen “múa bút” về số nợ, về nguyên nhân vỡ nợ khiến tin này trở nên “hot”, thu hút sự quan tâm của nhiều người. Trong đó, cảm thông có và không thông cảm cũng có. Vì những lùm xùm của người trong giới showbiz, nên người ta thường hay nhìn về giới này bằng sự “ác cảm”. Song, theo những gì người trong cuộc nói, không khó nhìn thấy cách quản trị cuộc sống có phần “ngô nghê” của “khổ chủ”. Tại sao lại đầu tư và nếu đầu tư thì sao lại chọn một lĩnh vực không thuộc chuyên môn và bản thân chưa hiểu hết về nó?

Ca sỹ đầu tư kinh doanh, mua những thứ không nằm trong hiểu biết của mình và giải thích rằng: “Ai biết, nghe nói lãi lắm nên mua”. Nghe tưởng chừng hợp lý nhưng lại khó tin, bởi nó không phù hợp với logic của một người từng trải. Nếu đó là sự thật thì quả là sự thật ngô nghê mà hai chữ thương hay trách đáng để đặt lên bàn cân, nhất là với một người của công chúng, được tiếng già dặn, sâu sắc. Tất nhiên, đó là tiếng nói của người-trong-cuộc, nó có thể đúng và có thể chưa đúng. Nhưng bằng cảm quan, người ta có thể cảm thông cho người rơi vào tình thế hiểm nghèo. Vốn dĩ người phương Đông giàu tình cảm, sẵn sàng tha thứ và giúp đỡ những người ở bước đường cùng, kể cả những tội phạm biết hối lỗi, chịu khó hoàn lương!Hermit crab looking at larger shell

2Trở lại chuyện biết đủ, vậy như thế nào là đủ? Chữ đủ ở đây mỗi người sẽ có cảm nhận khác nhau: Chừng đó là đủ với người này, nhưng người kia lại cảm thấy quá ít. Nó giống khi ăn cơm, mình ăn hai chén thấy no trong khi người khác phải gấp đôi như thế. Cái bụng quyết định sự no đủ về vật chất, còn cách nghĩ tham gia vào việc định đoạt cũng như quá trình đi đến quyết định đó.

Hồi nhỏ, khi bệnh, ta vẫn thường được cha mẹ an ủi: “Con nghĩ nó không đau thì nó sẽ không đau, còn con cứ nghĩ nó đau đớn thì nó sẽ đau nhiều hơn thực tế”. Ta nghe và thử, để tự huyễn hoặc mình rằng không đau. Và đương nhiên, nó bớt đau hơn khi ta cứ quằn quại, rên la, co thắt.

Trong y học, có một loại thuốc gọi là “thuốc trơ”. Nó không hề có dược tính, chỉ mang yếu tố trị liệu tâm lý, dành cho những bệnh nhân bị bệnh vì những ám thị bệnh tình trong người mình. Khi khám, bác sỹ đương nhiên không tìm ra bệnh lý trong cơ thể nhưng sẽ nhận diện được ngay bệnh nhân mắc thứ “tâm bệnh” của người luôn nghĩ mình có bệnh. Khi đó, bác sỹ cũng kê đơn cho thuốc, nhưng là “thuốc trơ” để người bệnh uống, yên tâm rồi… tự khỏe lại vì nghĩ mình đã uống thuốc.

 

————

“Mỗi người có bản lĩnh và khả năng khác nhau nên thành quả đạt được đương nhiên cũng khác nhau. Đó chính là cái đủ mà mỗi người cần phải biết để quản trị cuộc sống, công việc của mình”

————

 

3Trong cuộc sống, đôi khi ta cũng mắc bệnh trên khi cứ mãi hoang tưởng về sự vô địch của mình nên không ngừng bôn ba chinh phục những mục tiêu nằm ngoài tầm với. Lòng tham vốn nông nổi, dễ đưa bản thân tới chỗ “nhìn gà hóa cuốc” rồi tự biến thành con thiêu thân trong cuộc đua tốc độ mà chính mình thường là kẻ chiến bại ê chề. Đầu tư vào những lĩnh vực mình không hiểu biết nhiều hoặc lĩnh vực chỉ nổi lên như hiện tượng tạm thời, kiểu bong bóng trời mưa, là một sự thiển cận.

Trong số đó, phải kể đến chứng khoán hay nhà đất, những lĩnh vực thường gây “chết đứng” nhiều doanh nghiệp, ngay cả những doanh nghiệp lớn, tiếng tăm, có bề dày và thương hiệu vững vàng. Chết đứng vì những sai biệt trong tính toán, do không hoặc đã lường trước được, nhưng lợi nhuận quá lớn khiến con người liều lĩnh đưa chân bước tới với lý luận: “Có gan làm giàu”.Turtle looking at larger, empty shell

Thông thường, những con bạc, người lao vào đầu tư tài chính, cho vay lãi suất cao trong thời gian ngắn bị “mắc mưu” người ngoài vì chính “bẫy” tham lam, không biết đủ tồn tại nơi bản thân mình. Sau mỗi vụ vỡ nợ, ta lại thấy mẫu số chung: Đó là lòng tham ở những “chủ nợ” ham tiền lời. Họ sẵn sàng vung ra số tiền rất lớn để cho vay mà quên hỏi tại sao lại có “phi vụ” tiền đẻ ra lãi nhiều như thế.  

Con người ở đời ai chẳng có lòng tham và những mong muốn cho riêng mình. Quan trọng là tỉnh táo quản trị những điều mình muốn bằng cách cân nhắc xem bản thân có đủ điều kiện để đạt được mong mỏi đó hay không. Khi nhận một món quà từ người khác, ta cần xem lại đức hạnh của mình có xứng đáng nhận nó không? Nếu luôn biết dừng lại trước những barie (thanh chắn) cảnh báo nguy hiểm ở phía trước, có lẽ ta đã bớt được những hệ lụy, những ân hận muộn màng!

st

Vàng...thau....

 
 
 
"Này các cô gái đừng bao giờ tự tin khoe mẽ là mình có hàng tá người theo đuổi, bởi chỉ có hàng giảm giá mới hút đông khách hàng. Khi bạn thực sự có một người đàn ông dành cho mình, bạn sẽ hiểu, có những điều chỉ cần mình cảm nhận, chẳng cần cho ai khác biết."
---
đang ngẫm ngẫm..."hàng giảm giá vẫn có người tranh, còn hàng xịn thì phải đủ tiền mới mua được, nếu không, chỉ có nước đứng đằng xa mà nhìn..."

NHỮNG HIỂU LẦM VỀ ĐẠO PHẬT.



Đạo Phật ngày càng suy đồi, tha hóa, “mạt pháp”, nguyên nhân thì nhiều, nhưng đôi khi vì trong giới tu sĩ và cư sĩ không trang bị đủ kiến thức của giáo pháp như thực - tức là giáo pháp cội rễ - mà chỉ chạy theo cành, nhánh, ngọn lắm hoa và nhiều trái. Từ đấy, khó phân biệt đâu là đạo Phật chơn chánh, đâu là đạo Phật đã bị biến chất, chạy theo thị hiếu dung thường của thế gian. Đôi nơi đạo Phật còn bị trộn lẫn với tín ngưỡng duy linh và cả tín ngưỡng nhân gian nữa... Nhiều lắm, không kể xiết đâu.

Với cái nhìn “chủ quan” của một tu sĩ Thēravāda, tôi xin mạo muội liệt kê ra đây những hiểu lầm tai hại và rất phổ biến của Phật giáo trong và ngoài nước để chư vị thức giả cùng thấy rõ như thực:


1) Tôn giáo: 

Đạo Phật có những sinh hoạt về tôn giáo nhưng đạo Phật không phải là tôn giáo vì đạo Phật không có một vị thượng đế tối cao hoá sinh muôn loài và có quyền ban thưởng, phạt ác...


2) Tín ngưỡng: 

Đạo Phật có những sinh hoạt tín ngưỡng nhưng đạo Phật không phải là tín ngưỡng để mọi người đến van vái, cầu xin những ước mơ dung tục của đời thường.


3) Triết học: 

Đạo Phật có một hệ thống tư tưởng được rút ra từ Kinh, Luật và Abhidhamma, được gọi là “như thực, như thị thuyết” chứ không phải là một bộ môn triết học “chia” rồi “chẻ”, “phán” rồi “đoán” như của Tây phương.


4) Triết luận: 

Đạo Phật có tuệ giác để thấy rõ Cái Thực chứ không sử dụng lý trí phân tích, lý luận. Còn triết, còn luận là vì chưa thấy rõ Cái Thực. Đạo Phật là đạo như chơn, như thực. Kinh giáo của đức Phật luôn đi từ cái thực cụ thể để hướng dẫn mọi người tu tập, nó không có triết, có luận đâu. Ngay “thiền” mà còn “luận” (thiền luận) là đã đánh mất thiền rồi.


5) Từ thiện xã hội: 

Đạo Phật có những sinh hoạt từ thiện xã hội nhưng không coi từ thiện xã hội là tất cả, để hy sinh cuộc đời đầu tròn, áo vuông một cách uổng phí. Đạo Phật còn có những sinh hoạt cao cả hơn: Đó là giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, tu tập thiền định và thiền tuệ nữa. Từ thiện xã hội thì ai cũng làm được, thậm chí người ta còn làm tốt hơn cả Phật giáo, ví dụ như Bill Gates. Còn giáo dục, văn hoá, nghệ thuật của đạo Phật là nền tảng Mỹ Học viết hoa (nội hàm các giá trị nhân văn, nhân bản) mà không một tôn giáo, một chủ nghĩa, một học thuyết nào trên thế gian có thể so sánh được. Và đây mới là sự phụng hiến cao đẹp của đạo Phật cho thế gian. Còn nữa, nếu không có tu tập thiền định và thiền tuệ thì mọi hình thái sinh hoạt của đạo Phật, xem ra không phải là của đạo Phật đâu!


6) Cực lạc, cực hạnh phúc: 

Đạo Phật có nói đến hỷ, lạc trong các tầng thiền; có nói đến hạnh phúc siêu thế khi ly thoát tham sân, khổ lạc (dukkha), phiền não của thế gian - chứ không có một nơi chốn cực lạc, cực hạnh phúc được phóng đại như thế.


7) 8 vạn 4 ngàn pháp môn: 

Đạo Phật có nói đến 8 vạn 4 ngàn pháp uẩn (dhammakhandha) chứ không nói đến 8 van 4 ngàn pháp môn (dhammadvāra). Uẩn (khandha) ngoài nghĩa che lấp, che mờ và nghĩa chồng lên, chồng chất, còn có nghĩa là nhóm, liên kết, tập hợp ví như Giới uẩn (nhóm giới), Định uẩn (nhóm định), Tuệ uẩn (nhóm tuệ). Do từ uẩn (khandha) lại dịch lệch ra môn - cửa (dvāra), pháp môn nên ai cũng tưởng là có 8 vạn 4 ngàn pháp môn, tu theo pháp môn nào cũng được! Ai là người có thể đếm đủ 8 vạn, 4 ngàn cửa pháp này? Còn nữa, xin lưu ý, 8 vạn 4 ngàn chỉ là con số tượng trưng, có nghĩa là nhiều lắm, đếm không kể xiết theo truyền thống tôn giáo và tín ngưỡng Ấn Độ cổ thời. Ví dụ 84 ngàn lỗ chân lông, 84 ngàn vi trùng trong một bát nước, 84 ngàn phiền não, 84 ngàn cách tu..

Những hình thức này không phải của đạo Phật. Trong kinh tụng Pāḷi có đoạn: “Sunakkhataṃ sumaṅgalaṃ supabhātaṃ suhuṭṭhitaṃ, sukhno ca suyiṭṭaṃ brahmacārisu. Padakkhinaṃ kāyakammaṃ vācākammaṃ padakkhinaṃ padakkhinaṃ manokammaṃ paṇidhī te padakkhinā...” Có nghĩa là: Giờ nào (chúng ta) thực hành thân, khẩu, ý trong sạch; giờ đó được gọi là vận mệnh tốt, là giờ tốt, là khắc tốt, là canh tốt... Ngày đó gọi là có nghiệp thân phát đạt, nghiệp khẩu phát đạt, nghiệp ý phát đạt. Và nguyện vọng theo đó được gọi là nguyện vọng phát đạt. Người tạo nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý phát đạt như thế rồi sẽ được những lợi ích phát đạt (chữ phát đạt có thể có thêm nghĩa nhiêu ích).


9) Định mệnh: 

Đạo Phật có nói đến nghiệp, đến nhân quả nghiệp báo chứ không hề nói đến định mệnh. Theo đó, gây nhân xấu ác thì gặt quả đau khổ, gây nhân lành tốt thì gặt quả an vui - chứ không phải “cái tơ cái tóc cũng do trời định” như định mệnh thuyết của Khổng Nho hoặc định mệnh 4 giai cấp của Bà-la-môn giáo.


10) Siêu độ, siêu thoát: 

Không có bài kinh nào, không có uy lực của bất kỳ ông sư, ông thầy nào có thể tụng kinh siêu độ, siêu thoát cho hương linh, vong linh, chân linh cả. Thời Phật tại thế, nếu có đến nơi người mất, chư tăng chỉ đọc những bài kệ vô thường, khổ và vô ngã để thức tỉnh người sống; và hiện nay các nước Phật giáo Thēravāda còn duy trì. Có thể có hai trường hợp:

- Nếu vừa chết lâm sàng thì thần thức người chết vẫn còn. Vậy có thể đọc kinh, mở băng kinh, chuông mõ, hương trầm... để “thần thức người chết” hướng về điều lành... để thần thức tự tạo “cận tử nghiệp” tốt cho mình.

- Nếu thần thức đã lìa khỏi thân rồi – thì họ đã tái sanh vào cõi khác rồi, ngay tức khắc. Khi ấy thì gia đình làm phước để chư tăng tụng kinh hồi hướng phước ấy cho người đã mất.

Cả hai trường hợp trên đều không hề mang ý nghĩa siêu độ, siêu thoát mà chỉ có ý nghĩa gia hộ, gia niệm, gia lực mà thôi. Tu dựa vào tha lực cũng tương tự như vậy, nhưng cuối cùng cũng phải tự lực: “Tự mình thắp đuốc mà đi, tự mình là hòn đảo của chính mình”. Chư thiên chỉ có khả năng hoan hỷ phước và báo truyền thông tin ấy cho người quá vãng mà thôi. Họ không có uy lực ban phước lành cho ai cả.


11) Huyền bí, bí mật: 

Giáo pháp của đức Phật không có cái gì được gọi là huyền bí, bí mật cả. Đức Phật luôn tuyên bố là “Như Lai thuyết pháp với bàn tay mở ra”; có nghĩa là ngài không có pháp nào bí mật để giấu kín cả!


12) Tâm linh: 

Ngày nay, người ta tràn lan lễ hội, tràn lan mọi loại điện thờ với những hình thức mê tín, dị đoan, sa đoạ văn hoá... mà ở đâu cũng rêu rao các giá trị tâm linh. Đạo Phật không hề có các kiểu tâm linh như vậy. Thuật ngữ tâm linh này được du nhập từ Trung Quốc. Và rất tiếc, tôi không hề tìm ra nguồn Phật học Pāli hay Sanskrit có từ nào tương thích với chữ “linh” này cả!


13) Niết-bàn: 

Nhiều người tưởng lầm Niết-bàn là ở một cõi nào đó, một nơi chốn nào đó; thậm chí là ở một thế giới ở ngoài thế gian này. Người nào tìm kiếm Niết-bàn kiểu ấy, thuật ngữ thiền tông có cụm từ “lông rùa, sừng thỏ” như ngài Huệ Năng đã nói rõ: “Phật pháp tại thế gian. Bất lý thế gian giác. Ly thế mịch bồ-đề. Cáp như tầm thố giác”. Thố giác là sừng thỏ. Và giác ngộ cũng vậy, chính ở trong khổ đau, phiền não mới giác ngộ bài học được.


14) Bỏ khổ, tìm lạc: 

Tu Phật không phải là bỏ khổ, tìm lạc. Xin lưu ý cho: Khổ và Lạc chính là căn bản của phiền não!


15) Tu để được cái gì? 

Có nhiều người nghĩ rằng, tu là để được cái gì đó. Xin thưa, được cái gì là sở đắc. Ai sở đắc? Chính là bản ngã sở đắc. Đạo Phật là vô ngã. Hãy xin đọc lại Bát-nhã tâm kinh.


16)Tu là sửa: 

Nếu tu là sửa thì mình đã từ “cái ta này” biến thành “cái ta khác”. Nếu tu là không sửa thì cứ để nguyên trạng tham, sân, si như vậy hay sao? Xin thưa, sửa hay không sửa đều trật. Đạo Phật quan trọng ở Cái Thấy! Có Cái Thấy mới nói đến giác ngộ và giải thoát. Không có Cái Thấy này thì tu kiểu gì cũng chệch hướng hoặc rơi vào phước báu nhân thiên.


17) Vía: 

Đạo Phật không có vía nào cả. Vía, hồn, phách là quan niệm của nhân gian. Ví dụ, ba hồn bảy vía. Ví dụ, nam thất, nữ cửu – nam bảy vía, nữ chín vía. Nếu là nam thất, nữ cửu thì nó trùng với nam 7 khiếu, nữ 9 khiếu. Vía là phần hồn. Không có cái hồn, cái linh hồn tự tồn tại nếu không có chỗ nương gá. Vía không độc lập được. Như danh - phần tâm, sắc - phần thân – luôn nương tựa vào nhau. Chỉ có năng lực thiền định mới tạm thời tách lìa danh ra khỏi sắc, như Cõi trời Vô tưởng của tứ thiền. Tuy nhiên, cõi trời Vô tưởng hữu tình này không phải là không có danh tâm mà chúng ở dạng tiềm miên. Còn các Cõi trời Vô sắc thì sắc không phải là không có, chúng cũng ở dạng tiềm miên. Thật đáng phàn nàn, Phật và Bồ-tát đều có “vía” cả! Và cũng thật là “đau khổ” khi trong lễ an vị Phật, người ta còn hô “Thần nhập tượng” nữa chứ!


18) Bồ-tát: 

Bồ-tát là âm của chữ Bodhisatta: Chúng sanh có trí tuệ. Vậy, chúng ta tạm thời bỏ quên “khái niệm Bồ-tát” quen thuộc trong kinh điển mà trở về với nghĩa gốc là “chúng sanh có trí tuệ”. Và như vậy, sẽ có hạng chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Thanh Văn; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Độc Giác; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Chánh Đẳng Giác. Ngoài 3 loại chúng sanh có trí tuệ trên – không có loại chúng sanh có trí tuệ nào khác.


19) Phật: 

Phật là âm của chữ Buddha, nghĩa là người Giác ngộ. Vậy chúng ta nên tạm thời bỏ quên “khái niệm Phật” từ lâu đã mọc rễ trong tâm thức mà trở về nghĩa gốc là bậc Giác ngộ. Vậy, có người Giác ngộ do nghe pháp từ bậc Chánh Đẳng Giác, được gọi là Thanh Văn Giác. Có người Giác ngộ do tự mình tu tập vào thời không có đức Chánh Đẳng Giác, được gọi là Độc Giác. Có vị Giác ngộ do trọn vẹn 30 ba-la-mật, trọn vẹn minh và hạnh nên gọi là Chánh Đẳng Giác. Không có vị Giác ngộ (Phật) nào ngoài 3 loại Giác ngộ trên.


20) Thể nhập: 

Tu là không thể nhập vào cái gì cả. Thể nhập là bỏ cái ngã này để nhập vào cái ngã khác. Cái ngã khác ấy có thể là dòng sông, có thể là ngọn núi, có thể là một cội cây, có thể là một thần linh, thượng đế. Cái cụm từ “thể nhập pháp giới” rất dễ bị hiểu lầm. Khi đi, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái đi; khi nói, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái nói; khi ăn, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái ăn – thì đấy mới đúng nghĩa “thể nhập pháp giới”, ngay giây khắc ấy, mọi tham, sân, phiền não không có chỗ để phan duyên, sanh khởi.


• Hòa thượng Giới Đức


 Ngọa Tùng Am, Huế.



————


* Lời pháp của Đức Dalai Lama: Phật giáo không chấp nhận một lý thuyết về Thượng đế, hay một đấng sáng tạo. Theo Phật giáo, hành động của chính mình suy cho cùng là người tạo tác (nghiệp của mình). Một số người nói rằng, từ một góc độ nhất định, Phật giáo không phải là một tôn giáo mà là một khoa học về tâm thức.


P/S: Lời giảng 2600 năm vẫn còn văng vẳng cho những ai đang kiếm tìm: Ta không cứu được ai, hãy dùng pháp của ta mà tự định đoạt đời mình.

"Dưới vòm nôi mọc từng nấm mộ ..."

 "Dưới vòm nôi mọc từng nấm mộ ..."



Sanh tử là một quá trình tự nhiên. Có ai sinh ra mà không chết đi? Có sinh linh nào tượng hình mà không hư hoại theo thời gian?


Đôi khi, chúng ta đau khổ đến tuyệt vọng khi ai đó mất đi, điều này chỉ ra nơi chúng ta gắn bó và yêu thương.


Càng gắn bó càng yêu thương khi chia tay càng đau khổ.


Đừng quá chấp niệm với cuộc chia tay, đừng quá bám víu vào người ra đi, cũng đừng quá chìm đắm trong nỗi nhớ thương ... để rồi quên quá trình sinh tử của chính mình!


Thật ra, không có rắc rối nào ở cái chết cả nhưng hết thảy vấn đề sẽ bắt đầu khi chúng ta sợ sự thay đổi.


Hãy nhìn dòng sông. Đó là một dòng chảy không ngừng nghỉ. Sự sống cũng vậy. Là một dòng chảy. Chúng ta đâu muốn mình mắc kẹt lại trong dòng chảy đó phải không?


Sống là động, chứ không là tĩnh.


Kỉ niệm đẹp với một người để chúng ta nhớ về chứ không phải để ngừng lại và chết chìm trong đó!


Hiểu vô thường để sống thiết tha hơn!


#VôThường 

#NguyễnBảoTrung